- Tranh chấp gì? "Quyết định"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn V.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/QĐ-TA | Đồng Nai, ngày 04 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Trần Ánh Nguyệt
2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Vui
Ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 33/QĐ-TA ngày 24 tháng 10 năm 2025, đối với:
Họ và tên: Trần Tuấn V Tên gọi khác: M, Giới tính: Nam.
Sinh ngày 22/5/1993.
Số CCCD: 045093006704, cấp ngày 25/9/2024, nơi cấp: Cục C06-BCA.
Đăng ký thường trú: khu phố 6, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Hiện đang bị quản lý tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 7 tỉnh Đồng Nai.
Tiền án: Bị Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 (một) năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 18/2020/HSST ngày 17/4/2020; Ngày 08/10/2021, bị Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 (một) năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 60/2021/HSST. Ngày 03/11/2021, bị Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo bản án số 63/2021/HSST.
Tiền sự: không.
Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Phước quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2014. Ngày 13/7/2011, bị Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Phước xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 46/2011/HSST. Ngày 13/6/2017, bị Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 24/2017/HSST.
Con ông Trần Bình K và bà Bùi Thị K1.
Vắng mặt tại phiên họp, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Người tham gia phiên họp:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Trưởng công an phường B
Người đại diện tham gia phiên họp: Ông Tống Văn T – Tổ trưởng tổ phòng chống tội phạm, Công an phường B (Văn bản ủy quyền số 06/GUQ - CAP ngày 04/11/2025). (Có mặt).
2. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Tới – Kiểm sát viên. (có mặt).
NHẬN THẤY:
Ngày 12/8/2025, Công an phường B phối hợp với trạm y tế phường B tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với V, kết quả V dương tính với chất ma túy trong cơ thể và thừa nhận đã sử dụng ma túy vào ngày 12/8/2025. Do đó, Công an phường B đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 23 mục 2 chương II Nghị định 144/2021/NĐ – CP ngày 31/12/2021 qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Cùng ngày, V làm đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy. Ngày 19/8/2025, trạm y tế phường B xác định V nghiện ma túy (Heroin) và đã thông báo kết quả cho V biết. Hết thời hạn quy định, V không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an phường B đã lập biên bản hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy Trần Tuấn V.
Tại buổi tiến hành họp xét, đại diện Công an phường B đề nghị đưa Trần Tuấn V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 tỉnh Đồng Nai trong thời hạn 22 đến 24 tháng.
Người bị đề nghị Trần Tuấn V trình bày tại đơn xin giải quyết vắng mặt: không có ý kiến gì đối với hồ sơ đề nghị, đề nghị Toà án xem xét theo quy định, tạo điều kiện cho tôi được sớm tái hoà nhập cộng đồng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tuân thủ quy định pháp luật; Quan điểm về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính: Đủ căn cứ để áp dụng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn V, về thời hạn áp dụng đề nghị từ 22 đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia, nhận thấy:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị được lập theo đúng quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; các điều 33, 40, 41, 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 và Điều 7 Thông tư liên tịch Số: 03/2025/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025, về Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Về nội dung đề nghị họp xét:
Theo như các tài liệu có trong hồ sơ cũng như ý kiến của những người tham gia phiên họp cho thấy: quá trình lập hồ sơ, V thừa nhận sử dụng ma tuý từ năm 2011 cho đến nay, đã bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2014 nhưng vẫn không từ bỏ được ma tuý. Ngày 12/8/2025, Công an phường B phối hợp với trạm y tế phường B xét nghiệm nhanh ma tuý đối với V và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 19/8/2025, trạm y tế phường B xác định V nghiện ma túy (Heroin) nhưng sau khi nhận được kết quả V không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn V theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Trần Tuấn V có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về các tội xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù thì không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, sửa chữa bản thân mà liên tục phạm tội gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn khác tại địa phương, đồng thời tạo điều kiện cho Trần Tuấn V được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm đoạn tuyệt với ma túy để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nên thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn V là 24 tháng như đề nghị của Cơ quan đề nghị và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và cần thiết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn V.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 tỉnh Đồng Nai là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường B, Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 tỉnh Đồng Nai; - Công an phường B; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Trần Ánh Nguyệt |