vanban.org

Quyết định 35/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “ xin ly hôn ” với anh Nguyễn Văn L. Xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L được ly hôn với nhau.

2/Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm xin ly hôn. Được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “ xin ly hôn ” với anh Nguyễn Văn L. Xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L được ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án: 35/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 24-7-2024.
V/v “Xin ly hôn ”giữa chị
Nguyễn Thị T và anh Nguyễn
Văn L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị T Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Lĩnh- Kiểm sát viên
Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ
án dân sự thụ lý số 75/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc
“xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ
ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1995
Địa chỉ: thôn 3, xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Bị đơn: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1992.
Địa chỉ: thôn 10, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
(Chị T, anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ).
Hôm nay, ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27-3-2024 và những lời trình bày của nguyên đơn thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L có thời gian tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình đồng ý, đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Ngãi, Bảo L, Lâm Đồng vào ngày 02/11/2015. Trong thời gian sống chung vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, hiện nay anh L đang đi chấp hành án tại Trại Giam Đại Bình, từ đó không quan tâm đến nhau, phần ai người đó sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Trong thời gian sống chung chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L không có con chung.

Về tài sản chung: Trong thời gian sống chung chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L không tạo lập được tài sản chung nào.

Về nợ chung: không có.

Ý kiến anh L:

Về quan hệ hôn nhân: anh L đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Trong thời gian sống chung anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị T không có con chung.

Về tài sản chung: Trong thời gian sống chung anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị T không tạo lập được tài sản chung nào.

Về nợ chung: không có

Đến ngày 20/6/2024 và ngày 27/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Bảo L nhận được đơn đề nghị vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử của anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị T.

Sau khi Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “ xin ly hôn ” với anh Nguyễn Văn L. Xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L được ly hôn với nhau.

Về con chung: Trong thời gian sống chung anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị T không tạo lập được tài sản chung nào nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: nguyên đơn chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn L nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L có thời gian tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình đồng ý, đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Ngãi, Bảo L, Lâm Đồng vào ngày 02/11/2015. Trong thời gian sống chung vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, hiện nay anh L đang đi chấp hành án tại Trại Giam Đại Bình, từ đó không quan tâm đến nhau, phần ai người đó sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn L và anh L cũng đồng ý được ly hôn với chị T, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L được ly hôn với nhau là có cơ sở và đúng pháp luật.

Về con chung: Trong thời gian sống chung chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L trình bày không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: chị T và anh L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: chị T và anh L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc chị T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm xin ly hôn là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 207; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

1/ Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “ xin ly hôn ” với anh Nguyễn Văn L. Xử cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L được ly hôn với nhau.

2/Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000đ chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0006921 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

3/ Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tài -Phạm Đức Minh

Vũ Thị T Thành

Cỡ chữ