- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn B"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/2022/QĐ-TA | Đại Từ, ngày 17 tháng 10 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 31/2022/QĐ-TA ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1974.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm S, xã AK, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết); Con bà: Đào Thị H. Vợ: Thi Thị X, có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quân Anh, Chức vụ: Cán bộ Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ: Bà Chu Thanh Thủy, chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp Nguyễn Văn B xác định: B sử dụng và lệ thuộc vào ma túy từ năm 2005, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng “hít”, mỗi ngày sử dụng ít nhất một lần. Ngày 19/9/2022, B sử dụng trái phép chất ma túy heroine tại nhà riêng với hình thức là hít.
Tại biên bản xét nghiệm ma túy và Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 20/9/2022 của Công an xã An Khánh, Trạm y tế xã An Khánh có kết quả xét nghiệm đối với B xác định: Dương tính với chất ma túy loại Heroine.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ xác định tình trạng nghiện ma túy đối với B: Có nghiện ma túy.
Sau đó, Công an xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản làm việc đối với B và thông báo cho B trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày 20/9/2022 đến hết ngày 25/9/2022 B phải đi đăng ký biện pháp cai nghiện tự nguyện tại trung tâm cai nghiện tự nguyện huyện Đại Từ hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại cơ sở điều trị Methadone huyện Đại Từ. Quá thời hạn nêu trên, nếu B không thực hiện đăng ký thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên, B không đăng ký biện pháp cai nghiện tự nguyện. Ngày 26/9/2022 Công an xã An Khánh đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với B.
Công văn số: 02/ĐN-CNBB, ngày 29/9/2022 của Ủy ban nhân dân xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B.
Công văn số: 453/ĐN-CNBB, ngày 04/10/2022 của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B.
Tại phiên họp:
- Người bị đề nghị Nguyễn Văn B có ý kiến: Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân B là người nghiện ma túy, đến nay vẫn chưa từ bỏ được ma túy. Quá trình lập hồ sơ bản thân B đã được đọc hồ sơ tại Công an xã. B xác định việc lập hồ sơ đưa B đi cơ sở cai nghiện bắt buộc B nhất trí và xin được hưởng mức thấp nhất.
- Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Nguyễn Văn B với thời gian từ 15 đến 18 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 như: Thời hạn ra Thông báo thụ lý vụ việc, ra Quyết định mở phiên họp, thành phần tham gia phiên họp.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B, nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B với thời gian là từ 15 đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B, thấy rằng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ đối với Nguyễn Văn B vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thấy rằng:
Nguyễn Văn B sử dụng và lệ thuộc vào ma túy từ năm 2005 đến nay, ngày 20/9/2022 Công an xã An Khánh đã lập biên bản làm việc đối với B và thông báo cho B trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày 20/9/2022 đến hết ngày 25/9/2022 B phải đi đăng ký biện pháp cai nghiện tự nguyện tại trung tâm cai nghiện tự nguyện huyện Đại Từ hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại cơ sở điều trị Methadone huyện Đại Từ. Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên, B không đăng ký biện pháp cai nghiện. Do vậy, trưởng công an xã An Khánh đã lập biên bản hành vi vi phạm và lập hồ sơ đề nghị đưa B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 33 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.
Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định Nguyễn Văn B thuộc đối tượng “Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện” và “Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện” theo khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của B là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với B là cần thiết.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với B thấy: B chưa bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc lần nào. Trong quá trình lập hồ sơ B đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. B không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn B là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Khoản 1 Điều 3, các Điều 22, 23, 29, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/20214 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1974.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm S, xã AK, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ phối hợp với Công an huyện Đại Từ đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTB&XH huyện Đại Từ; - VKSND huyện Đại Từ; - Công an huyện Đại Từ; - UBND xã An Khánh; - Người bị áp dụng; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký Nguyễn Thúy Quỳnh |