vanban.org

Quyết định 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Mai Quốc V.

2/. Về con chung: Xử giao con chung Mai Quang P, sinh ngày 10/8/2009 và Mai Quang H, sinh ngày 25/4/2011 cho chị Vũ Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị Vũ Thị Q không yêu cầu anh Mai Quốc V cấp dưỡng cho con chung. Anh Mai Quốc V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; anh Mai Qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Q - Anh V"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Mai Quốc V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19/7/2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân và
gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cao Thị Hưng.

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân huyện Đông Hưng.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn KĐ, xã PC, huyện ĐH, tỉnh TB.

2. Bị đơn: Anh Mai Quốc V, sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: Thôn KĐ, xã PC, huyện ĐH, tỉnh TB; chỗ ở hiện nay: Số nhà 221B, tổ 39, khu phố A, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN.

(Nguyên đơn có mặt. Bị đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, chị Vũ Thị Q trình bày:

Chị và anh Mai Quốc V tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã PC, huyện ĐH, tỉnh TB vào ngày 22 tháng 3 năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung, anh V có biểu hiện ngoại tình, ít quan tâm đến vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2022. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Chị và anh V có 02 con chung là Mai Quang P, sinh ngày 10/8/2009 và Mai Quang H, sinh ngày 25/4/2011, hiện cả hai con đang sinh sống cùng chị. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị và anh V tự phân chia tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị và anh V không có nợ chung.

* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn anh Mai Quốc V trình bày:

Anh thống nhất về thời gian và quá trình kết hôn, thời gian mâu thuẫn và ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như chị Q khai. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đồng ý ly hôn. Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng thụ lý vụ án thì anh chuyển vào tỉnh ĐN làm ăn tự do, tuy nhiên hộ khẩu thường trú của anh vẫn ở thôn KĐ, xã PC, huyện ĐH, tỉnh TB, anh đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết ly hôn cho anh và chị Q.

Anh và chị Q có 02 con chung như chị Q khai. Ly hôn, anh đồng ý để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và đồng ý với việc chị Q không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh và chị Q không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh đã được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình liên quan đến việc giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị Q và anh. Do điều kiện anh ở xa, công việc bận mải và tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải cho anh và chị Q; anh xin được vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định

- Về tố tụng:

. Bị đơn, anh Mai Quốc V có nơi cư trú tại thôn KĐ, xã PC, huyện ĐH, tỉnh TB, sau khi Tòa án thụ lý vụ án anh V mới đi làm ăn tự do tại tỉnh ĐN, trong quá trình giải quyết vụ án anh V có ý kiến đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Q; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Nguyên đơn, chị Vũ Thị Q và bị đơn, anh Mai Quốc V đều có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải cho chị Q và anh V được, đồng thời đưa vụ án ra xét xử.

. Anh Mai Quốc V có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh V.

- Về nội dung:

. Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị Q và anh Mai Quốc V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Chị Q, anh V chung sống đến đầu năm 2022 thì ly thân nhau, mỗi người ở một nơi. Nguyên nhân, do vợ chồng có quan điểm và lối sống khác nhau, cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Q xin ly hôn, anh V cũng đồng ý; vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q.

. Về con chung: 02 con chung đang sinh sống ổn định cùng chị Q và đều có nguyện vọng được ở với chị Q; từ khi vợ chồng ly thân, chị Q vẫn chăm sóc con chu đáo, đảm bảo việc học tập, sinh hoạt của con. Anh V cũng đồng ý để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần giao 02 con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc chị Q không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con chung.

. Về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Mai Quốc V.

2/. Về con chung: Xử giao con chung Mai Quang P, sinh ngày 10/8/2009 và Mai Quang H, sinh ngày 25/4/2011 cho chị Vũ Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị Vũ Thị Q không yêu cầu anh Mai Quốc V cấp dưỡng cho con chung.

Anh Mai Quốc V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; anh Mai Quốc V và chị Vũ Thị Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.

3/. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4/. Về án phí: Chị Vũ Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003097 ngày 27/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH thành tiền án phí.

5/. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Mai Quốc V vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ