- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình giữa chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự T tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/2021/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 30 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận T tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Lệ Thu
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 45/2021/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2021 về việc “Yêu cầu công nhận T tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 38/2021/QĐ-TA ngày 11/6/2021 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Bùi Thị Đ, sinh năm 1983; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm 1, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Cộng hòa liên bang Đức
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm 1, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Cộng hòa liên bang Đức
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo đơn yêu cầu công nhận T tình ly hôn, bản tự khai của chị Bùi Thị Đ trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T kết hôn hợp pháp với nhau vào ngày 02/12/2009 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã Hông Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Trước khi kết hôn, chị Đ và anh T được tự do tìm hiểu, qua lại trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 6 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thiếu tôn T nhau, không tìm thấy tiếng nói chung trong cuộc sống dẫ đến thường xuyên xảy ra cả cọ nhau. Năm 2016 chị Đ đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đức và sau đó anh T cũng sang xuất khẩu lao động động tại Cộng hòa liên bang Đức cho đến nay, thời gian đầu chị Đ, anh T thường xuyên nói chuyện với nhau qua điện thoại, nhưng càng về sau thì càng ít và đến nay không còn liên lạc với nhau nữa. Do khoảng cách về địa lý, vợ chồng không có thời gian chung sống bên nhau để chia sẽ, hàn gắn mâu thuẫn nên tình cảm ngày càng phai nhạt và không còn quan tâm đến nhau. Chị Đ nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên mong muốn được ly hôn với anh T để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bùi A, sinh ngày 19/9/2010. Từ nhỏ đến nay cháu Anh sống cùng vói anh T và ông bà nội tại xóm 1, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, anh T và ông bà chăm sóc tốt nên chị đồng ý giao con chung Nguyễn Bùi A cho anh T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Về chi phí cấp dưỡng nuôi con chị Đ và anh T tự thống nhất thảo T với nhau không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Văn T trình bày bằng văn bản có nội dung thống nhất như trình bày của chị Bùi Thị Đ về quan hệ hôn nhân, con chung cũng như tài sản chung. Anh T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm T, tình cảm không còn nên anh đã có đơn yêu cầu công nhận T tình ly hôn, thỏa T nuôi con với chị Đ.
Do điều kiện công việc, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp nên chị Đ và anh T không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn nên chị Đ, anh T yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn. Chị Đ ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho ông Bùi Đức T (bố đẻ chị Đ); địa chỉ: Khối 5, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Anh T ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho ông Nguyễn T T (bố đẻ anh T); địa chỉ: Xóm 1, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa T thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T hiện đang sinh sống, lao động tại Cộng hòa liên bang Đức. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ công an số 11236/QLXNC-P5 ngày 12/5/2021 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thì chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T đã xuất nhập cảnh, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.
Quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình chị Bùi Thị Đ, anh Nguyễn Văn T đều có đơn trình bày và yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết. Chị Bùi Thị Đ ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho ông Bùi Đức T (bố đẻ chị Đ); địa chỉ: Khối 5, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Nguyễn Văn T ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho ông Nguyễn T Thận (bố đẻ anh T); địa chỉ: Xóm 1, xã V, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (các tài liệu chị Đ và anh T gửi về đã được giám định).
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Bùi THị Đ và anh Nguyễn Văn T theo thủ tục chung
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/2009 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T hạnh phúc được thời gian 06 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là quan điểm sống không hòa hợp, vợ chồng không còn tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay, các đương sự đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm T và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn T, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T không đạt được mục đích đó.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa T về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận T tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T đã tự nguyện thỏa T ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa T này của các đương sự.
Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 01 con chung là Nguyễn Bùi A, sinh ngày 19/9/2010. Từ nhỏ đến nay cháu sống cùng với anh T và ông bà nội, cháu được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và có nguyện vọng được ở với anh T. Chị Đ và anh T đã thống nhất giao con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Đ, anh T tự thỏa T với nhau về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Hiện nay, anh T đang sinh sống, lao động tại Cộng hòa liên bang Đức không thể trực tiếp chăm sóc cháu nên nhờ ông Nguyễn T Thận (bố đẻ anh T) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cho đến khi anh T về Việt Nam. Ông Nguyễn T Thận tự nguyện xin được nuôi cháu và không có yêu cầu gì đối với anh T. Xét thấy sự thỏa T này của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa T của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét thấy, sự thỏa T của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm T, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự T tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự T tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Đ và anh Nguyễn Văn T
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa T giao con chung Nguyễn Bùi A, sinh ngày 19/9/2010 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T chưa về Việt Nam, ông Nguyễn T Thận sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bùi A cho đến khi anh T về nước.Chị Bùi Thị Đ có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Bùi Thị Đ (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000168 ngày 23/4/2021 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND phường Đ; - UBND xã V; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Trương Thị Lệ Thu |