vanban.org

Quyết định 35/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đỗ Thị Tr,

Tuyên bố anh Đỗ Văn C, sinh năm 1982, nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn Tỉnh Th, xã Xa, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị Tr phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đỗ Thị Tr,
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 35/2019/QĐST-DSThọ Xuân, ngày 22 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến

Thư ký phiên họp: Ông Lê Ngọc Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 24/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2019 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 11/2019/QĐST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị Tr, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn Tỉnh Th, xã Xa, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1982, nơi ĐKHKTT: thôn Tỉnh Th, xã Xa, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là chị Đỗ Thị Tr trình bày: Chị và anh C có quan hệ là vợ chồng, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Thọ Xuân vào ngày 21/4/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng C sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì không còn hạnh phúc mà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong sinh hoạt. Đến tháng 6 năm 2015 anh C đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không tin tức gì cho chị biết. Từ khi anh C bỏ đi chị đã tìm kiếm nhiều nơi, hỏi thăm bạn bè, người thân nhưng không có ai biết tin tức gì của anh C. Đến nay đã hơn 4 năm nhưng chị vẫn không có tin tức gì về anh C, nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố anh Đỗ Văn C mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với anh C theo quy định.

Tại quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 24/2019/QĐ-TA ngày 05/6/2019 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Đỗ Văn C theo đúng quy định, cụ thể: Tại Báo Nhân dân các số 23245, 23246, 23247 ra vào các ngày 07, 08, 09 tháng 6 năm 2019, cũng như Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 13, 14, 15 tháng 6 năm 2019 đã nhắn tin, phát tin tìm kiếm anh Đỗ Văn C theo quy định, nhưng đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (07/6/2019) vẫn không có tin tức về anh Đỗ Văn C.

Tại phiên họp chị Đỗ Thị Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Đỗ Văn C mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết: đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng Điều 369, 370, 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị Tr, tuyên bố anh Đỗ Văn C là người mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:

Về thủ tục tố tụng: chị Đỗ Thị Tr yêu cầu tuyên bố anh Đỗ Văn C, có HKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích ở xã X, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn C đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do, nên căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh C.

Về nội dung yêu cầu: quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Tr và anh Đỗ Văn C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng C sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Từ tháng 6 năm 2015 anh C đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không tin tức. Chị Tr đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của anh C. Từ khi anh C bỏ đi đến nay đã hơn 4 năm nhưng chị Tr vẫn không biết anh C đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, nên chị Tr làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố anh C mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với anh C. Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thụ lý việc dân sự và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Đỗ Văn C, đồng thời thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên Báo Nhân dân. Ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm anh C lần đầu tiên là ngày 07/6/2019, tính đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng, nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Đỗ Văn C.

Từ những phân tích nêu trên, xác định: anh Đỗ Văn C đã bỏ đi biệt tích từ tháng 6 năm 2015 đến nay là hơn 4 năm; chị Đỗ Thị Tr là vợ đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về anh Đỗ Văn C. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của chị Đỗ Thị Tr và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tại phiên họp, tuyên bố anh Đỗ Văn C mất tích là phù hợp.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Đỗ Thị Tr phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đỗ Thị Tr,

Tuyên bố anh Đỗ Văn C, sinh năm 1982, nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn Tỉnh Th, xã Xa, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Đỗ Thị Tr phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, chị Tr đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0004615 ngày 04/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Chị Đỗ Thị Tr đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ