- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hà Trung - Trần Thị Vân Anh - Hoàng Văn Hồng - Nguyễn Ngọc Trinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha, mẹ cho con của ông N H T và bà T T V A,
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 346/2023/QĐST-HNGĐ | Đống Đa, ngày 24 tháng 04 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Phương Thảo. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Phạm Hà Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 04 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 240/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/03/2023 về việc “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 04 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: 1. Ông N H T; Sinh năm: 1977; CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 20/4/2021 ở
Cục cảnh sát; Hộ khẩu thường trú: 21 Đoàn Thị Điểm, Quốc Tử Giảm, Đống
Đa, HN. 2. Bà T T V A; Sinh năm: 1979; CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 22/11/2021 ở
Cục cảnh sát; Hộ khẩu thường trú: 21 Đoàn Thị Điểm, Quốc Tử Giảm, Đống
Đa, HN. 3. Ông H V H; Sinh năm: 1982; CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 04/11/2021 ở
Cục cảnh sát; Hộ khẩu thường trú: CH3B CC5T CTCP ĐT&XD, Tả Thanh
Oai, Thanh Trì, HN. 4. Bà N N T; Sinh năm: 1982; CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 04/11/2021 ở
Cục cảnh sát; Hộ khẩu thường trú: CH3B CC5T CTCP ĐT&XD, Tả Thanh
Oai, Thanh Trì, HN.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu N X P, sinh ngày 23/04/2016. HKTT: CH3B, Chung cư 5T- CTCP ĐT&XD, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: 21 Đoàn Thị Điểm, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông N H T và bà T T V A trình bày: Chúng tôi tự nguyện kết hôn ngày 17/10/2003 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu chúng tôi chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên cách đây 08 năm, chúng tôi liên tục phát sinh mâu thuẫn, bất đồng gay gắt trong quan điểm sống cũng như dạy dỗ con cái nên thường xuyên cãi vã. Thời điểm đó chúng tôi đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện và cố gắng trao đổi cùng nhau để tìm ra tiếng nói chung, bỏ qua cho nhau những khúc mắc trong cuộc sống cũng như muốn hàn gắn lại tình cảm, thậm chí vợ tôi đã có thai cháu thứ 03 nhưng chúng thôi cũng không thể hàn gắn được. Do nghĩ rằng vợ chồng chúng tôi sẽ ly hôn nên cả hai vợ chồng tôi có nhờ em gái ruột của tôi là N N T – sinh năm 1982 cùng chồng là H V H – sinh năm 1982 đứng tên khai sinh cho con chung của hai vợ chồng để tránh việc tranh chấp con chung khi hoàn tất thủ tục ly hôn
Vì vậy khi con tôi ra đời em gái tôi đã thực hiện đăng ký khai sinh với thông tin như sau:
“Họ tên con: N X P.
Ngày tháng năm sinh: 23/4/2016
Giới tính: Nam
Dân tộc: Kinh
Quốc tịch: Việt Nam
Quê quán: Thôn Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Họ tên mẹ: N N T.
Sinh năm: 1982
Nơi cư trú: Thôn Mỹ Đôi, xã An Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Họ tên cha: H V H.
Sinh năm: 1982
Quê quán: Thôn Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Đăng ký khai sinh tại UBND xã An Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam số 76/2016, quyển 01/2016 ngày 27/5/2016”
Từ khi sinh ra tới nay, cháu Phúc vẫn do vợ chồng tôi trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay vợ chồng chúng tôi đã tìm lại được tiếng nói chung và quay về chung sống cùng nhau, cháu Phúc đã lớn và được đi học tại trường Tiểu học Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội, cháu vẫn thường xuyên thắc mắc về việc tại sao con khai sinh khác các anh chị trong gia đinh và có những hành vi có dấu hiệu trầm cảm nhẹ, thái độ ngỗ ngược, chống đối vợ chồng tôi do cho rằng cháu không phải là con đẻ. Vì vậy vợ chồng tôi và vợ chồng em gái tôi có nguyện vọng xác định lại cha mẹ cho cháu N X P để cháu ổn định tâm lý sinh hoạt và học tập.
Vì vậy bằng đơn này, chúng tôi kính đề nghị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xác định lại cha mẹ cho con để chúng tôi thực hiện thủ tục khai sinh cho cháu N X P.
Ông H V H và bà N N T trình bày: Vào khoảng năm 2015 vợ chồng ông N H T là anh trai bà T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, lục đục muốn giải quyết ly hôn. Lúc đó bà T T V A đang có thai nên ông bà đã nhờ vợ chồng tôi đứng tên khai sinh cho con sắp sinh để tránh việc tranh chấp con khi ly hôn, chúng tôi đã nhận lời. Khi cháu N X P ra đời chúng tôi đã tiến hành làm thủ tục khai sinh cho cháu, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã An Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà. Tuy nhiên từ khi ra đời đến nay cháu Phúc vẫn do vợ chồng ông T bà V A trực tiếp nuôi dưỡng. Tình cảm vợ chồng của ông T bà V A được cải thiện, gia đình hàn gắn. Đến nay nguyện vọng của ông T bà V A mong muốn được xác nhận cha, mẹ cho con chưa thành niên là hoàn toàn chính đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên. Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Kính mong Tòa án xem xét chấp nhận.
Ý kiến của cháu N X P: Năm con vào lớp 1 trường tiểu học Thái Thịnh con mới biết con có giấy khai sinh là con cô T và chú Hồng, nhưng từ nhỏ con chỉ biết bố T bà mẹ V A. Con không muốn bị trêu chọc là con rơi. Vì vậy, con mong muốn quý tòa án chấp nhận cho con được nhận lại bố T và mẹ V A là bố mẹ đẻ của con.
Tại phiên họp hôm nay, ông T bà V A vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Ông Hồng, bà T và cháu Phúc có đơn xin được giải quyết vắng mặt.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham dự phiên họp ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt trong tè tông d©n sù trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô việc cña ThÈm ph¸n, Th ký ®óng quy ®Þnh cña ph¸p luËt. ViÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ng êi tham gia tè tông d©n sù ®óng quy ®Þnh cña ph¸p luËt. VÒ néi dung: Sau khi nghiªn cøu hå s¬ vµ thÈm tra t¹i phiªn họp xÐt thÊy đủ căn cứ pháp luật đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của các ông bà, xác định ông N H T và bà T T V A là cha đẻ, mẹ đẻ của cháu N X P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đống Đa nhận định:
Về tố tụng: Việc yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện phù hợp quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã Quyết định trưng cầu giám định số 99/2023 QĐ-TCGĐ ngày 03/04/2023, Trưng cầu Công ty TNHH công nghệ di truyền NOVAGEN thùc hiÖn gi¸m ®Þnh ADN ®èi víi ông N H T, bà T T V A, ông H V H, bà N N T vµ cháu N X P, sinh ngày 23/04/2016; Xác ®Þnh ông N H T, bà T T V A cã phải là cha- mẹ đẻ của cháu N X P, sinh ngày 23/04/2016 hay không?
Theo kết luận giám định số 3879H/2023/01 ngày 10/04/2023 của Công ty TNHH công nghệ di truyền NOVAGEN: N H T có quan hệ huyết thống bố -con với N X P, độ tin cậy trên 99,999999%; T T V A có quan hệ huyết thống mẹ -con với N X P, độ tin cậy trên 99,999999%.
Theo kết luận giám định số 3879H/2023/02 ngày 10/04/2023 của Công ty TNHH công nghệ di truyền NOVAGEN: H V H không có quan hệ huyết thống bố -con với N X P, độ tin cậy trên 99,999999%; N N T không có quan hệ huyết thống mẹ -con với N X P, độ tin cậy trên 99,999999%.
Vì vậy, Tòa án chấp nhận Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con của các ông bà là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: C¨n cø: Khoản 10 Điều 29, Điều 149, Điều 161, Điều 361, Điều 371, Điều 372 Bé luËt tè tông d©n sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n.
Ông N H T và bà T T V A, ông H V H và bà N N T thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí Tòa án.
Đối với số tiền chi phí giám định các ông bà tự nguyện chịu và đã chi xong. C¸c ® ¬ng sù ® îc quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt. Tõ c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Điều 39 Bộ luật dân sự;
Căn cứ: Khoản 10 Điều 29, Điều 149, Điều 161, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha, mẹ cho con của ông N H T và bà T T V A,
ông H V H và bà N N T.
2. Xác định ông N H T và bà T T V A là cha đẻ, mẹ đẻ của cháu N X P, sinh
ngày 23/04/2016.
3. Xác định ông H V H và bà N N T không phải là cha để, mẹ đẻ của cháu N X
P, sinh ngày 23/04/2016.
4. Ông N H T và bà T T V A, ông H V H và bà N N T có trách nhiệm liên hệ
với cơ quan có thẩm quyền để cải chính hộ tịch cho cháu N X P, sinh ngày
23/04/2016 (Giấy khai sinh số 76/2016, quyển 01/2016 do Ủy ban nhân dân
xã An Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cấp ngày 27/5/2016) theo quy định
pháp luật.
5. Về lệ phí: Đương sự thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí Tòa án.
Đối với số tiền chi phí giám định các đương sự tự nguyện chịu. Các đương
sự đã nộp xong.
Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND quận Đống Đa; - Ủy ban nhân dân xã An Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thị Phương Thảo |