vanban.org

Quyết định 343/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp tín dụng giữa: Ngân hàng Đông Nam Á - Hậu, Tuyền"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP Về đăng ký biện pháp bảo đảm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 343/2025/DS-ST
Ngày: 29-12-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thu Yến;

2. Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 753/2025/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 410/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 356/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ: A T, phường H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1988; thường trú: Thôn X, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên hệ: 281 Đại Lộ B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 95/2025/UQ-Seabank ngày 10/4/2025), có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1984; địa chỉ: 8 khu phố B, phường A, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/8/2022, giữa ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T và Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt: Ngân hàng S) – Chi nhánh B có ký Hợp đồng cho vay từng lần số REF2222100328/HDTD/HM3-ĐVH, cụ thể như sau: Số tiền vay: 7.000.000.000 (Bảy tỷ đồng); mục đích sử dụng: Thanh toán chi phí mua bất động sản tại thửa đất 499, tờ bản đồ 107, khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; thời hạn vay: Từ ngày giải ngân đến hết ngày 20/9/2047; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ; lãi suất chậm trả: 10%/năm trên số dư lãi chậm trả. Đến ngày 20/9/2022, Ngân hàng S đã giải ngân số tiền 7.000.000.000 đồng.

Để bảo đảm nghĩa vụ cho khoản vay nêu trên, ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T đã ký Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số REF2222100328/HDTC/HM3-ĐVH ngày 11/8/2022 được Công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa số 499, tờ bản đồ 107, khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận (GCN): Số DĐ 324344, vào số CS 19248 do Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/5/2022 cho ông Đỗ Văn H; cập nhật biến động ngày 21/7/2022.

Trong quá trình vay vốn, ông H và bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi. Mặc dù Ngân hàng S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu trả nợ, phía khách hàng vẫn không thiện chí thực hiện, có dấu hiệu trốn tránh và kéo dài thời gian. Tạm tính đến ngày 29/12/2025 ông H và bà T còn nợ Ngân hàng số tiền: 7.435.539.019 đồng, trong đó: Nợ gốc: 6.432.479.149 đồng’ lãi trong hạn: 916.252.408 đồng; lãi quá hạn: 33.835.904 đồng; lãi chậm trả: 52.971.558 đồng.

Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết:

- Buộc ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm tính đến ngày 29/12/2025: 7.435.539.019 đồng, trong đó: nợ gốc: 6.432.479.149 đồng; lãi trong hạn: 916.252.408 đồng; lãi quá hạn: 33.835.904 đồng; lãi chậm trả: 52.971.558 đồng.

- Buộc ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền lãi phát sinh từ ngày 30/12/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần số REF2222100328/HDTD/HM3-ĐVH và Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 01 ngày 20/9/2022; Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 02 ngày 21/9/2022 .

- Trường hợp sau khi Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T không thực hiện trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: REF2222100328/HDTC/HM3-ĐVH ký ngày 11/8/2022, được công chứng ngày 11/8/2022 tại Văn phòng C, số công chứng 11226, quyền số 08/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 12/8/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố T là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 499, tờ bản đồ số: 107, tọa lạc tại: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: DĐ 324344, số vào số cấp GCN: CS 19248 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/5/2022.

- Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để chi trả toàn bộ nợ, ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng cho vay từng lần số REF2222100328/HDTD/HM3-ĐVH ngày 11/8/2022; Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 01 ngày 20/9/2022; Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 02 ngày 21/9/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: REF2222100328/HDTC/HM3-ĐVH ký ngày 11/8/2022.

Bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và các giấy triệu tập trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên đều vắng mặt không rõ lý do, không chấp hành và không có phản hồi gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng trường hợp không thanh toán được thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét Hợp đồng cho vay từng lần số REF2222100328/HDTD/HM3-ĐVH và Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 01 ngày 20/9/2022; Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 02 ngày 21/9/2022. Các bên tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên; mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1; Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng. Về hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 124 của Bộ luật D sư năm 2005. Như vậy các hợp đồng nêu trên là hợp pháp nên phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi cho nguyên đơn theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc là có cơ sở chấp nhận.

Về tiền lãi: Theo quy định tại Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010, nguyên đơn là tổ chức tín dụng được quyền cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, nguyên đơn và bị đơn được quyền thỏa thuận lãi suất và phí cấp tín dụng theo quy định pháp luật. Như vậy thỏa thuận lãi suất giữa ngân hàng, bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T là đúng quy định pháp luật. Từ ngày 10/10/2022, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên ngân hàng đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn. Từ ngày 25/4/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ sang quá hạn. Như vậy bị đơn phải có trách nhiệm cho ngân hàng tiền lãi quá hạn từ ngày 10/10/2022 đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 29/12/2025 là 7.435.539.019 (bảy tỷ bốn trăm ba mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín nghìn không trăm mười chín đồng), trong đó gồm: Nợ gốc: 6.432.479.149 đồng (Sáu tỷ bốn trăm ba mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng); nợ lãi trong hạn: 916.252.408 đồng (Chín trăm mười sáu triệu hai trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm lẻ tám đồng); Nợ lãi quá hạn 33.835.904 đồng (ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm lẻ bốn đồng); Nợ lãi chậm trả: 52.971.558 đồng (năm mươi hai triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi tám đồng) là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu của ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp. Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: REF2222100328/HDTC/HM3-ĐVH ký ngày 11/8/2022, được công chứng ngày 11/8/2022; căn cứ Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 12/8/2022 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 324344, số vào số cấp GCN: CS 19248 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/5/2022. Có đủ căn cứ xác định bị đơn đã dùng tài sản này để thế chấp đảm bảo cho khoản vay của ông bà tại Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc ký kết hợp đồng thế chấp tài sản của các bên đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật nên hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Như vậy yêu cầu của ngân hàng trong trường hợp ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T không trả được nợ hoặc trả nợ chưa đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Tiền lãi, lãi quá hạn tiếp tục được tính từ ngày 30/12/2025 cho đến ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay với Ngân hàng S, trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng S.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chi Phí tố tụng:

- Chi phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho bị đơn theo Điều 180 Bộ luật tố tụng Dân sự số tiền 7.290.491 đồng nguyên đơn chịu.

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã đóng toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 5.700.000 đồng. Do đó, bị đơn có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ phải thực hiện. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; các điều 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 298, 299, 317, 318, 351, Điều 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T .

- Buộc ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm tính đến ngày 29/12/2025: 7.435.539.019 đồng (bảy tỷ bốn trăm ba mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín nghìn không trăm mười chín đồng), trong đó: nợ gốc: 6.432.479.149 đồng (Sáu tỷ bốn trăm ba mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng); lãi trong hạn: 916.252.408 đồng (Chín trăm mười sáu triệu hai trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm lẻ tám đồng); lãi quá hạn: 33.835.904 đồng (ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm lẻ bốn đồng); lãi chậm trả: 52.971.558 đồng (năm mươi hai triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi tám đồng).

- Buộc ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền lãi phát sinh từ ngày 30/12/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần số REF2222100328/HDTD/HM3-ĐVH và Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 01 ngày 20/9/2022; Khế ước nhận nợ mã REF: REF2222100328/ Lần 02 ngày 21/9/2022 .

- Trường hợp sau khi Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T không thực hiện trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: REF2222100328/HDTC/HM3-ĐVH ký ngày 11/8/2022, được công chứng ngày 11/8/2022 tại Văn phòng C, số công chứng 11226, quyền số 08/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 12/8/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố T là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 499, tờ bản đồ số: 107, tọa lạc tại: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: DĐ 324344, số vào số cấp GCN: CS 19248 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/5/2022.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu số tiền số tiền 115.435.539 đồng (Một trăm mười lăm triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm ba mươi chín đồng).

- Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 57.385.306 đồng (Năm mươi bảy triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm lẻ sáu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027301 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Chi Phí tố tụng:

- Chi phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền 7.290.491 đồng Ngân hàng TMCP Đ chịu. Ngân hàng đã nộp đủ.

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 5.700.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ