vanban.org

Quyết định 34/QĐ-TA

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/02/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thị Bích T1.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ. Trịnh Thị Bích T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Thị Bích T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thị Bích T1.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Số: 34/QĐ-TA
Thốt Nốt, ngày 25 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – THÀNH PHỐ CẦN THƠ Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Trung Thu.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Ngọc Gia Hân.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu chính trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt và điểm cầu thành phần trụ sở Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 32/QĐ-TA ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Trịnh Thị Bích T1 Giới tính: Nữ.

Sinh ngày 13 tháng 9 năm 1999.

CMND số: 092199000632, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh.

Trình độ văn hóa: 01/12.

Nguyên quán: Trung Kiên, T, Cần Thơ.

Hộ khẩu thường trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 lần.

- Ngày 10.11.2024 bị Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Con ông Trịnh Thanh N và bà Phạm Thị Tuyết X (chết);

Chồng Võ Trọng K.

(Trịnh Thị Bích T1 vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T (nay là Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận T): Ông Nguyễn Ngọc S – Chức vụ: Chuyên viên Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận T.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 04.11.2024, Trịnh Thị Bích T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an phường T xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0005430/QĐ – XPHC ngày 10.11.2024. Ngày 06.11.2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ký Quyết định số 594/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 năm đối với Trịnh Thị Bích T1.

Ngày 06.12.2024, Trịnh Thị Bích T1 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 07.12.2024 của Công an phường T thể hiện có kết quả dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Quá trình làm việc tại Bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 07.12.2024, Trịnh Thị Bích T1 khai nhận sử dụng ma túy lần đầu vào năm 2015 và lần sử dụng gần đây nhất là ngày 06.12.2024 (Bút lục 04, 06). Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế phường T ngày 11.12.2024, xác định Trịnh Thị Bích T1 nghiện ma túy (Bút lục 10).

Căn cứ Biên bản thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ngày 12.12.2024 của Công an phường T (Bút lục A) thì T1 đã được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện, T1 không có ý kiến gì. Đồng thời, T1 cũng đã được Công an phường T giải thích, hướng dẫn về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng do bản thân T1 không đủ điều kiện về kinh tế nên không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của pháp luật (Bút lục 12).

Ngày 19.12.2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, quận T ra Thông báo số 08/TB- UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 theo quy định pháp luật.

Ngày 19.02.2025, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T, thành phố Cần Thơ có văn bản Đề nghị số 41/ĐN-CNBB gửi đến Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đề nghị đưa Trịnh Thị Bích T1 vào Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ, địa chỉ số G, khu vực X, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (Bút lục 29).

Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện cơ quan đề nghị trình bày: Trịnh Thị Bích T1 là người nghiện ma túy lâu năm. Quá trình xử lý đối tượng, Trịnh Thị Bích T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T1 đã vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật phòng chống ma túy năm 2021, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ thời hạn từ 12 đến 15 tháng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán thực hiện đúng trình tự, quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội quận T (cũ) đã đủ căn cứ để đưa người bị yêu cầu đi cai nghiện tại cơ sở bắt buộc. Do đối tượng sử dụng ma túy lâu năm và chưa thể tự cai nghiện nên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thị Bích T1 từ 12 đến 15 tháng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và cơ quan đề nghị.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Người bị đề nghị Trịnh Thị Bích T1 vắng mặt tại phiên họp không có lý do chính đáng, căn cứ vào Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt Trịnh Thị Bích T1.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Xét thời điểm Trịnh Thị Bích T1 thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 06.12.2024 đến thời điểm xem xét áp dụng là còn trong thời hiệu để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính và lập biên bản theo quy định đối với Trịnh Thị Bích T1 cho đến khi hồ sơ được chuyển sang Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về nội dung:

Trịnh Thị Bích T1 là người trên 18 tuổi. Ngày 06.12.2024, T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11.12.2024 của Trung tâm y tế phường T xác định T1 có nghiện ma túy. Mặc dù, đã được Công an phường T hướng dẫn về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng T1 vẫn không thực hiện đăng ký. Do đó, T1 thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Xét đề nghị của cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt nhận thấy, Trịnh Thị Bích T1 là đối tượng sử dụng ma tuý lâu năm, tần suất sử dụng thường xuyên (02-03 lần/tuần), đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, được chính quyền địa phương nhắc nhỡ, giáo dục, giúp đỡ để khắc phục việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn không chấp hành tốt biện pháp cai nghiện mà tiếp tục sử dụng. Từ đó cho thấy, ý thức tự cai nghiện đối với T1 là không khả thi. Trong thời gian qua, việc người nghiện sử dụng trái phép chất ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong nhân dân. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn tương xứng để T1 có điều kiện chữa bệnh, lao động, học tập văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện là cần thiết và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, xét trong quá trình lập hồ sơ, Trịnh Thị Bích T1 đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần xem xét giảm nhẹ thời hạn để người bị áp dụng sớm cai nghiện tốt, trở thành người có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng:

- Điều 6, 95, 96, 103, 104, 105 và 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;

- Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

- Điều 3, 20, 21, 24, 31 và 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thị Bích T1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ.

3. Trịnh Thị Bích T1 có quyền khiếu nại, có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án theo quy định.

Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T (nay là Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận T) có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T (nay là Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận T) phối hợp với Công an quận T có trách nhiệm thi hành quyết định này theo quy định tại Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Cỡ chữ