vanban.org

Quyết định 34/2022/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa chị Bùi Thị Thúy N và anh Trần Văn D, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thúy N và anh Trần Văn D thuận tình ly hôn. 2. Về con chung: Giao cháu Trần Bùi Đức Lương, sinh Ny 08/12/2014, Trần Bùi Đức Thiện, sinh Ny 30/6/2017 cho chị Bùi Thị Thúy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bùi Thị Thúy N chưa yêu cầu anh Trần Văn D đón… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Người khởi kiện chị Bùi Thị Thúy N - Người bị kiện Nguyễn Mạnh D"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa chị Bùi Thị Thúy N và anh Trần Văn D, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải; Điều 33 Luật Hòa giải; Điều 34 Luật Hòa giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THỦY
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2022/QĐHG-HNGĐYên Thủy, ngày 08 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Thẩm phán ra quyết định: Lê Trung Nghĩa

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 23 tháng 8 năm 2022, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc ly hôn, nuôi con chung, giữa:

Người khởi kiện: Chị Bùi Thị Thúy N, sinh năm 1992

Người bị kiện: Anh Trần Văn D, sinh năm 1991

Cùng địa chỉ: Khu phố Tây Bắc, thị trấn Hàng Trạm, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên tham gia hòa giải được thể hiện trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 23 tháng 8 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa chị Bùi Thị Thúy N và anh Trần Văn D, cụ thể:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thúy N và anh Trần Văn D thuận tình ly hôn.

1.2. Về con chung: Giao cháu Trần Bùi Đức Lương, sinh Ny 08/12/2014, Trần Bùi Đức Thiện, sinh Ny 30/6/2017 cho chị Bùi Thị Thúy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bùi Thị Thúy N chưa yêu cầu anh Trần Văn D đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Trần Văn D chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Trần Văn D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Trong trường hợp anh D lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con chung của anh D.

Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của anh D hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản, công nợ chung: Không có, chị Bùi Thị Thúy N, anh Trần Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Trường hợp quyết định này vi phạm Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được quyết định các bên đương sự, người đại diện hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quyết định và viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định này theo quy định tại Điều 36 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Cỡ chữ