vanban.org

Quyết định 34/2020/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 10/12/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 34/2020/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc “ Tranh chấp về quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định thu hồi đất của UBND huyện K” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Duy K, sinh năm 1939; Địa chỉ: Xóm 13, thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1975; trú tại (BL94 tham gia toàn bộ quá trình giải quyết đến khi kết thúc vụ án) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Phạm Duy K + Ông Đinh Ngọc S"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 34/2020/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc “ Tranh chấp về quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định thu hồi đất của UBND huyện K” giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 274 Bộ luật Tố tụng dân sự trả lại đơn kháng cáo; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 295 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2020/QĐ-PTHà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Anh Dũng;

Ông Nguyễn Hải Thanh.

NHẬN THẤY:

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2019/DS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam bị kháng cáo như sau:

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, bị đơn là ông Đinh Ngọc S có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, bị đơn là bà Đinh Thị L và bà Đinh Thị C có đơn kháng cáo (phần ký tên người kháng cáo là anh Đinh Trí H với tư cách người đại diện theo ủy quyền) đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại .

XÉT THẤY:

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và triệu tập phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 17/9/2020. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 17/9/2020, anh Đinh Trí H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn xin hoãn phiên tòa và các bị đơn có kháng cáo là ông Đinh Ngọc S, bà Đinh Thị L, bà Đinh Thị C cùng một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm lần thứ hai ngày 09/11/2020, ông Đinh Ngọc S có mặt, bà Đinh Thị L và bà Đinh Thị C vắng mặt và có giấy ủy quyền cho anh Đinh Trí H tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền của bà L ngày 22/9/2020 và văn bản ủy quyền của bà C ngày 30/9/2020. Anh H có mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, Luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn là ông Đinh Ngọc S và anh H vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm lần thứ ba ngày 10/12/2020, bị đơn kháng cáo là ông Đinh Ngọc S đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị tăng huyết áp và có tiền sử bệnh tim mạch. Đơn ghi ngày 10/12/2020 không có xác nhận của cơ quan Y tế về tình trạng sức khỏe nên không được coi là sự kiện bất khả kháng. Việc ông Đinh Ngọc S kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng được coi là từ bỏ quyền kháng cáo.

Đối với kháng cáo của bà Đinh Thị L và bà Đinh Thị C thấy: Tại các đơn kháng cáo đề ngày 29/11/2019 của bà Đinh Thị L và bà Đinh Thị C thể hiện bà L và bà C là người kháng cáo, nhưng phần cuối đơn kháng cáo lại do anh Đinh Trí H ký tên với tư cách người đại diện theo ủy quyền. Trong khi đó, tại giấy ủy quyền ngày 17/12/2018 của bà Đinh Thị L có nội dung “Ủy quyền cho anh Hướng toàn quyền giải quyết mọi việc liên quan đến trang trại VAC của gia đình và nhận tiền đền bù thay tôi” và giấy ủy quyền ngày 28/12/2017 của bà Đinh Thị C có nội dung “…ủy quyền cho cháu là Đinh Trí H nhận và giải quyết mọi thủ tục liên quan tới đất đến khi thu hồi xong”. Như vậy, theo nội dung các văn bản ủy quyền nêu trên thể hiện bà L và bà C không ủy quyền cho anh Đinh Trí H kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 10/12/2020, anh Đinh Trí H cũng thừa nhận bà L và bà C không ủy quyền kháng cáo bản án sơ thẩm cho anh H. Căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự thì anh H không có quyền kháng cáo với tư cách đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Đinh Thị L và bà Đinh Thị C. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải áp dụng điểm a khoản 4 Điều 274 Bộ luật Tố tụng dân sự trả lại đơn kháng cáo cho anh H mới đúng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn kháng cáo của anh H và ban hành thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đối với bà L, bà C là không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần nghiêm túc rút kinh nghiệm khi làm thủ tục kiểm tra đơn kháng cáo của các đương sự. Do đó, hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí đối với bà Đinh Thị L (do anh H nộp thay), bà C là người cao tuổi và anh H có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đối với bà C.

Căn cứ Điều 289; Điều 295 Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 34/2020/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc “ Tranh chấp về quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy quyết định thu hồi đất của UBND huyện K” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Duy K, sinh năm 1939; Địa chỉ: Xóm 13, thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1975; trú tại (BL94 tham gia toàn bộ quá trình giải quyết đến khi kết thúc vụ án)

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm Ngọc T1 và Luật sư Nguyễn Tuấn H1- VPLS Vạn X, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

- Ông Đinh Ngọc S, sinh năm 1954;

- Bà ĐinhThị L, sinh năm 1961;

Cùng địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam;

- Bà Đinh Thị C, sinh năm 1952; ông Đinh Công N; cùng địa chỉ: Tổ 3, B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Văn Đ- Công ty Luật TNHH Trường S, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trần S1 - Chủ tịch UBND huyện K. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hùng S2- Phó Chủ tịch UBND huyện K (Văn bản ủy quyền số 5731/QĐ-UBND ngày 08/9/2020).

- Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành G - Chủ tịch UBND xã.

- Ông Phạm Văn Đ1; địa chỉ: Xóm 13, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Ông Phạm Văn B; địa chỉ: 139, phố C, phường S, thị xã S, tỉnh Hà Tây (nay số 64 phố C, phường S, S, thành phố Hà Nội). Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Ông Phạm Văn Đ1; địa chỉ: Xóm 13, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1928; bà Đinh Thị Đ2, sinh năm 1928; cùng địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Ông Đinh Trí T2, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1959; cùng địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam;

Người đại diện theo ủy quyền của ông T2: Anh Đinh Trí S3, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Anh Phạm Duy N1 (con ông K), sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm 14, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam;

- Cụ Phạm Thị P, sinh năm 1924 (vợ ông Đinh Ngọc T3);

- Bà Dương Thị P1, sinh năm 1959 (vợ ông Đinh Ngọc S);

Cùng địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Anh Đinh Ngọc L1, sinh năm 1982 (con ông Đinh Ngọc S); địa chỉ: T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Chị Đinh Thị P2, sinh năm 1985 (con ông Đinh Ngọc S) địa chỉ: xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Anh Đinh Ngọc L2, sinh năm 1987 (con ông Đinh Ngọc S); địa chỉ: Xóm 12, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Chị Nguyễn Thị N2, địa chỉ: Dãy nhà 29, tổ 15, quận Đ, Hà Nội (chị N2 là vợ anh Đinh Ngọc I con ông Sơn chết năm 2007).

- Anh Đinh Trí H, sinh năm 1984 ( con ông Đinh Trí T4); địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho anh H: Luật sư Trần Văn Đ- Công ty Luật TNHH Trường S, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

- Bà Lại Thị N3, sinh năm 1944 (mẹ ông Đinh Trí T4); địa chỉ: Xóm 1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Anh Đinh Trí Đ3, sinh năm 1986 (con ông Đinh Trí T4); địa chỉ: Ki ốt số 10, chợ C, M, K, B, Bình Dương.

- Anh Đinh Công V, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ 3, B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (con ông bà Đinh Thị C).

- Anh Đinh Nam Đ4, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ 3, B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (con bà Đinh Thị C).

- Chị Đinh Thị L3, sinh Năm 1977; địa chỉ: Xóm 4, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam (con bà Đinh Thị C).

- Anh Đinh Bốn Đ5, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ 3, B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (con bà Đinh Thị C).

- Chị Đinh Thị H4, sinh năm 1966 (chị H4 là vợ anh Nguyễn Văn T - con ông H2 đã chết); địa chỉ: Xóm 4, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Anh Nguyễn Văn C1; sinh năm 1995 (con anh Nguyễn Văn T đã chết); địa chỉ: Xóm 4, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Chị Đinh Thị L4, sinh năm 1983 (con ông Đinh Trí T2); đại chỉ: Xóm 15, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

- Chị Đinh Thị T5, sinh năm 1985 (con ông Đinh Trí T2); địa chỉ: Xã Đ, huyện Đ, Thái Nguyên.

- Anh Đinh Trí S3, sinh năm 1990 (Con ông Đinh Trí T2); địa chỉ: Xóm 1 xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

2. Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2019/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

3. Về án phí: Ông Đinh Ngọc S là người cao tuổi được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hoàn trả cho Bà Đinh Thị L (do anh Đinh Trí H nộp thay) số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số AA/2015/0004097 ngày 02/12/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.

4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành án.

Cỡ chữ