- Tranh chấp gì? "Bùi Đức T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 34/2019/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 17 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cường
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Phượng
Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 33/2019/QĐ-TA ngày 07 tháng 10 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Bùi Đức T. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 05 tháng 10 năm 2000.
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 07/12
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số *, đường N, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Không;
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Con ông: Bùi Đức H và bà: Nguyễn Thị N1.
Bùi Đức T vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Phiên họp có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nguyễn Duy Khiêm - Cán bộ. Theo quyết định ủy quyền số: 462/QĐ-LĐTB&XH, ngày 10/10/2019 của Trưởng Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Bà Nguyễn Lan Phương - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Bùi Đức T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại Số *, đường N, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 13/9/2019, Cơ quan chức năng phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn đã tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Bùi Đức T; kết quả xác định Bùi Đức T nghiện chất ma túy, dạng ma túy sử dụng: Ma túy tổng hợp (dạng đá).
Tại biên bản ghi lời khai, Bùi Đức T thừa nhận bản thân sử dụng ma túy từ năm 2018; loại ma túy thường sử dụng là ma túy tổng hợp dạng đá, hình thức sử dụng là hút và nay đã lệ thuộc vào ma túy, lần sử dụng ma túy gần nhất là tối ngày 12/9/2019.
Ngày 13/9/2019, Công an phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Bùi Đức T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 16/9/2019, Ủy ban nhân dân phường T1 có Thông báo số 191a/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T và giao Thông báo về việc lập hồ sơ cho người bị đề nghị và cùng ngày có Quyết định số 50/QĐ-UBND giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 23/9/2019, Ủy ban nhân dân phường T1 có Công văn số 326/UBND đề nghị Phòng Tư pháp thành phố Lạng Sơn thẩm định tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.
Ngày 30/9/2019, Phòng Tư pháp thành phố Lạng Sơn có Thông báo số 39/TB-TP thông báo về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ.
Ngày 03/10/2019, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố Lạng Sơn có Công văn số 448/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố Lạng Sơn có ý kiến: Bùi Đức T là người nghiện ma túy có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Bùi Đức T đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường tháng 01/2019 (03 tháng), nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Bùi Đức T đã được Phòng Tư pháp thành phố Lạng Sơn thẩm định theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T, thời gian từ 16 đến 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17 và Điều 20 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn thấy các tài liệu trong hồ sơ có đủ căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T. Vì vậy, Viện kiểm sát nhÊt trÝ víi đề nghị của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn về việc đưa Bùi Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T, thời gian từ 15 tháng đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có đối với Bùi Đức T đã có đầy đủ các tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/CP của Chính phủ ngày 09/9/2016, gồm: Bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của Bùi Đức T; tài liệu chứng minh Bùi Đức T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bản tường trình của Bùi Đức T; Phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và các tài liệu khác có liên quan.
Về thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị: Bùi Đức T có chỗ ở tại phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; do vậy, Ủy ban nhân dân phường T1, thành phố Lạng Sơn lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đảm bảo đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu áp dụng: Ngày 13/9/2019, Bùi Đức T có hành vi vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị lập biên bản vi phạm hành chính cùng ngày. Tính từ ngày Bùi Đức T thực hiện hành vi vi phạm đến nay đảm bảo thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Bùi Đức T sinh năm 2000, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đức T là đầy đủ, đúng quy định pháp luật.
Bùi Đức T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp dạng đá từ năm 2018 đến nay, đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại phường T, thành phố L theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 15/01/2019 tiếp tục có hành vi vi phạm, sử dụng trái phép chất ma túy; hành vi vi phạm của Bùi Đức T gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố L.
Về nhân thân: Bùi Đức T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, sống có ích mà sớm đi vào con đường nghiện, sử dụng chất ma túy; chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, Bùi Đức T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân, tình tiết tặng nặng, tình tiết giảm nhẹ của Bùi Đức T, thấy cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian ngắn để Bùi Đức T được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc để Bùi Đức T có cơ hội trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Đối với thời hạn mà đại diện Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố Lạng Sơn và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Bùi Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp nên được chấp nhận.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105 và Điều 106, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; khoản 1, 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Căn cứ các Điều 19, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Bùi Đức T; sinh ngày 05 tháng 10 năm 2000; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số *, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn (địa chỉ: Km 10, quốc lộ 1A cũ, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đưa người phải chấp hành quyết định định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn; - Phòng LĐTB&XH TP. Lạng Sơn; - Trưởng Công an TP. Lạng Sơn; - Trưởng Phòng tư pháp TP. Lạng Sơn; - UBND phường T1- TP.Lạng Sơn; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Mạnh Cường |