vanban.org

Quyết định 336/2020/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/05/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 11/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận U; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 843/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân…

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0064583 ngày 23/12/2019 của Chi cục Th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S-Lâm P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 11/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận U; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 843/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân…
  • Căn cứ chính? Điều 189 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 192 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 217 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 336/2020/QĐ-PT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Loan

Các Thẩm phán:

Ông Trương Việt Hồng;

Bà Phạm Thị Kim.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Lương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 843/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào khoản 3 Điều 5, điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;

Địa chỉ trụ sở: đường D, Phường E, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

1. Ông Phạm Đức D, chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Trung tâm Thẻ Ngân hàng TMCP S.

2. Ông Trần Đức T, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP S (Nhận ủy quyền lại).

Bị đơn: Ông Lâm P; sinh năm: 1974;

Địa chỉ thường trú: TK35/11, đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: Số 32, đường S, Phường T, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 17 tháng 12 năm 2019, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 843/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận U.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 11 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận U kháng nghị yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 843/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận U.

XÉT THẤY:

[1] Theo đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ nộp kèm đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông Lâm P phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 10/4/2018 là 335.173.909 đồng theo các hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 16/9/2010 và 27/8/2012 đã ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với ông Lâm P.

[2] Xét Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 804/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận U, Hội đồng phúc thẩm thấy rằng:

[2.1] Ông Lâm P có ký các hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 16/9/2010 và 27/8/2012 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Khi ký kết hợp đồng ông Lâm P có địa chỉ thường trú tại địa chỉ TK35/11, đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ chỗ ở hiện tại tại thời điểm ký kết là số 32, đường S, Phường T, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh ngày 23/10/2019, Công an phường N xác nhận: ông Lâm P có hộ khẩu thường trú tại TK35/11, đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay không còn sinh sống tại địa chỉ trên, chuyển về đâu không rõ và tại kết quả xác minh ngày 23/10/2019, Công an phường T xác nhận: trước đây ông Lâm P có hộ khẩu thường trú tại số 32, đường S, Phường T, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nhà tại Số 32 đã bán, ông Phú chuyển đi đâu không rõ. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn Lâm P có thường trú, tạm trú tại địa chỉ đúng như địa chỉ ghi trong hợp đồng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn nhưng hiện tại bị đơn không còn cư trú và đi đâu không rõ. Do đó, có cơ sở xác định nơi cư trú cuối cùng của bị đơn là tại số 32, đường S, Phường T, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn đã ghi địa chỉ tại số 32, đường S, Phường T, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện theo đúng quy định tại các điểm đ, e Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[2.2] Tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới; đồng thời tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 04 năm 2017 cũng quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Tòa án nhân dân Quận U đã thụ lý vụ án để giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định tại đoạn 1 điểm e khoản 1 Điều 192, 195, 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP và không vi phạm thẩm quyền. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điểm đ, e khoản 2 Điều 189; Điều 192; điểm h khoản 1 Điều 217; khoản 3 Điều 5, điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

[2.3] Từ những nhận định trên thấy rằng, kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận U là có căn cứ, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

[3] Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi tiếp tục giải quyết vụ án.

Căn cứ Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 11/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận U; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 843/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận U để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0064583 ngày 23/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi tiếp tục giải quyết vụ án.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ