vanban.org

Quyết định 334/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Minh D- Lê Thị Ngọc V"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 334/2017/QĐDS-ST
Ngày: 18/9/2017
V/v: Tuyên bố một người mất tích

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Lan - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Hà Thiên Tâm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

Quận N, Thành phố, Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên họp: Bà Lưu Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2016 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành

phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 369/2016/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2016 về yêu cầu “tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 15/2017/QĐPH-ST ngày 04 tháng 8 năm 2017 và quyết định hoãn phiên họp số: 06/2017/QĐST-VDS ngày 23/8/2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Minh D, sinh năm: 1976

Địa chỉ: Số 670/7 đường K, phường M, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Vũ Ngọc H, sinh năm: 1957

- Ông Lê Văn K, sinh năm: 1957

Cùng địa chỉ: Số 205/64 đường H, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí

Minh.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 02/11/2016 của ông Trần Minh

D cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì ông D và bà Lê Thị Ngọc V kết hôn năm 2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ 670/7 đường K, phường M, quận N. Đến tháng 7 năm 2012, bà V bỏ nhà đi, từ đó không còn bất kỳ liên lạc gì với gia đình. Đến nay đã trên năm năm, gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì xác thực bà V là còn sống hay đã chết. Nay ông D yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Ngọc V, sinh năm: 1980 mất tích. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Ngọc H và ông Lê Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định mở phiên họp nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 10 nhận định:

- Về thẩm quyền: Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Minh D là việc dân sự về “yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bà Lê Thị Ngọc V có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 10 nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và xác nhận của Công an Phường 10, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh, là nơi bà Lê Thị Ngọc V cư trú cuối cùng thì bà Lê Thị Ngọc V có đăng ký thường trú tại địa chỉ 670/7 đường K, phường M, quận N. Từ tháng 7 năm 2012 bà V không còn thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Đồng thời, gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về bà V. Như vậy, bà V biệt tích đã hơn năm năm, đây trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 68 của Bộ luật dân sự “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã được áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết”. Việc ông Trần Minh D là chồng yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Ngọc V mất tích là có cơ sở pháp lý để Tòa án chấp nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Ngọc H và ông Lê Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định mở phiên họp nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp. Tòa án nhân dân Quận 10 căn cứ vào khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành phiên họp.

- Về lệ phí: 200.000 đồng ông Trần Minh D chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 39 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ vào Điều 5, khoản 2 Điều 39 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh D Tuyên bố bà Lê Thị Ngọc V, sinh năm 1980 mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: 200.000 đồng ông Trần Minh D chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000580 ngày 10 tháng 11 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ

ngày Tòa án ra Quyết định./.

Cỡ chữ