- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với bà Phạm Ngọc T.
- Căn cứ chính? Nghị định số 82/2013/NĐ-CP Ban hành các Danh mục chất ma túy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 33/QĐ-CSCNBB-TA | Quận 10, ngày 09 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Triệu Luật.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hoài Anh.
Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân, Thành phố Hồ Chí
Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 33/QĐ-TA ngày 03/4/2019 đối với:
Họ và tên: Phạm Ngọc T - Giới tính: Nữ.
Sinh ngày: 19/5/1988.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Thiên chúa.
Trình độ văn hoá: 7/12
Nguyên quán: Thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ khẩu thường trú: đường M, Phường N, Quận O, TP.HCM.
Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định.
Tiền án: 01 (ngày 09/8/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 120/HSST).
Tiền sự: 02 (ngày 05/6/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 86/QĐ, ngày 02/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 64/QĐ).
Con ông: Phạm Ngọc A và bà: Lê Kim T.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị (Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh):
Ông Thái Quốc Trung.
Chức vụ: Chuyên viên
(Theo giấy ủy quyền số: 33.1/LĐTBXH ngày 27/3/2019 của Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:
Bà Mạnh Thị Tú Uyên – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Lúc 06 giờ 00 phút ngày ngày 12/201/2019, tại trước nhà đường K, Phường N , Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Phường 1, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh phát hiện và xác định bà Phạm Ngọc T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, nên tạm giữ, làm rõ, qua xét nghiệm nhanh nước tiểu của bà Phạm Ngọc T thì dương tính với chất ma túy tổng hợp; ngày 12/02/2019, Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng chất ma túy đối với bà Phạm Ngọc T.
Theo bà Phạm Ngọc T trình bày: bản thân có sử dụng ma túy vào ngày 10/02/2019, sau đó bị lực lượng Công an kiểm tra, tạm giữ như đã nêu trên; ngoài ra bà Phạm Ngọc T còn trình bày: bản thân bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015 sau đó bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tiếp tục tái nghiện; về tình trạng cư trú: đương sự khai hiện có hộ khẩu thường trú tại đường Trần Bình T, Phường N, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không còn cư trú tại địa chỉ trên và sống lang thang
Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp thông tin về tình trạng cư trú của bà Phạm Ngọc T tại địa chỉ đường Trần Bình T, Phường N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: xác định bà Phạm Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ đường Trần Bình T, Phường N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sau khi chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc đến ngày 13/01/2017 được trả về địa phương nhưng không đến Công an phường trình diện và không rõ nơi cư trú của bà My cho đến nay (thông qua công tác kiểm tra nhân khẩu thường trú tại địa phương).
Ngày 12/02/2019, Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Nhị Xuân để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T.
Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 16/02/2019 của Bác sỹ Trần Hữu N (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: bà Phạm Ngọc T nghiện chất dạng Amphetamine.
Ngày 12/3/2019, Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T.
Ngày 21/3/2019, Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn chuyển Phòng Tư pháp Quận 10 đề nghị thẩm định hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T; sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, ngày 25/3/2019, Phòng Tư pháp Quận 10 chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh để xem xét, quyết định đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T.
Tại văn bản đề nghị số 32/LĐTBXH ngày 27/3/2019, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T.
Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy Phú nghĩa) đối với bà Phạm Ngọc T với thời hạn 21 tháng đến 24 tháng; người bị đề nghị bà Phạm Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm pháp trên và đồng ý với nội dung đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị. Ngoài ra, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền: qua xem xét hồ sơ, do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T là Phòng Lao động thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
Về thời hiệu áp dụng: căn cứ biên bản vi phạm hành chính ngày 12/02/2019 do Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập thì xác định ngày 12/2/2019 là ngày đương sự bà Phạm Ngọc T được tiến hành kiểm tra nước tiểu và có kết quả dương tính với chất ma túy tổng hợp; ngày 27/3/2019, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T. Như vậy căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính này vẫn còn trong thời hạn 03 tháng.
Về quốc tịch và độ tuổi: qua các tài liệu thu thập được, có cơ sở xác định bà Phạm Ngọc T là công dân Việt Nam, sinh năm 1988, tức trên 18 tuổi.
Về tình trạng cư trú của bà Phạm Ngọc T: Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp thông tin về tình trạng cư trú của bà Phạm Ngọc T tại địa chỉ đường Trần Bình T, Phường N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: xác định bà Phạm Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ đường Trần Bình T, Phường N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sau khi chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng không đến Công an phường trình diện và không rõ nơi cư trú của bà My cho đến nay (thông qua công tác kiểm tra nhân khẩu thường trú tại địa phương); đồng thời tại phiên họp, bà Phạm Ngọc T cũng đã xác định bản thân là người không có nơi cư trú ổn định. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 2, điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì có cơ sở xác định bà Phạm Ngọc T thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định.
Về tình trạng nghiện ma túy: căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính ngày 12/2/2019 do Công an Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập về việc bà Phạm Ngọc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp với biên bản lấy lời khai vụ việc vi phạm hành chính (tất cả đều có xác nhận của bà Phạm Ngọc T), bản tường trình của bà Phạm Ngọc T (do bà Phạm Ngọc T trình bày), biên bản xét nghiệm nước tiểu của bà Phạm Ngọc T dương tính với chất ma túy tổng hợp (có xác nhận của bà Phạm Ngọc T); đồng thời tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/02/2019 của Bác sỹ Trần Hữu N (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: bà Phạm Ngọc T nghiện chất dạng Amphetamine, xét thấy theo danh sách Bác sỹ của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì Bác sỹ Trần Hữu N có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; do vậy căn cứ vào khoản 16 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính và những nội dung nhân định trên, có cơ sở xác định Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/02/2019 của Bác sỹ Trần Hữu N (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: bà Phạm Ngọc T nghiện chất dạng Amphetamine là có cơ sở, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy.
Ngoài ra, bà Phạm Ngọc T không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Do vậy, bà Phạm Ngọc T là người không có nơi cư trú ổn định, nhưng bản thân nghiện ma túy, trên 18 tuổi, nên cần thiết quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 5, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhằm mục đích để bà Phạm Ngọc T chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về nhân thân: có nhân thân xấu: ngày 09/8/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 120/HSST); ngày 05/6/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 86/QĐ, ngày 02/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 64/QĐ.
Về tình tiết tăng nặng: ngày 05/6/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 86/QĐ, ngày 02/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số 64/QĐ, bà Phạm Ngọc T đã vi phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí đã tái phạm, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, đương sự lại tiếp tục vi phạm, nên lần này là tái phạm, nên đương sự bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết giảm nhẹ: xét thấy người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thật sự thành thật hối lỗi; đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, mà trong lời đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 cũng có nêu.
Căn cứ vào Điều 3, Điều 9, Điều 12, Điều 22, Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 96; điểm b khoản 1 Điều 10; khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với bà Phạm Ngọc T.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Nghĩa.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày 12/02/2019.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân Quận 10.
Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị là 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở xã hội Nhị Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh./.
| Nơi nhận: - VKSNDQ.10; - Phòng LĐTB &XH Q.10; - PV06-CATP.HCM; - CAQ.10; - UBND P.1, Q.10; - Công an P.1, Q.10; - Cơ sở xã hội Nhị Xuân; - Cơ sở CNMT Phú Nghĩa; - Bà Phạm Ngọc T; - Lưu HS, TANDQ.10. | THẨM PHÁN Nguyễn Triệu Luật |