- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VDS Nguyễn Bá K"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bá K về việc xác định cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 24/4/2024 là con đẻ của ông Nguyễn Bá K.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 202 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 33/2026/QĐST-HNGĐ | Đắk Lắk, ngày 31 tháng 3 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu xác định con cho cha
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Chu Văn Hồi
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 51/2026/TLST-VDS ngày 25 tháng 02 năm 2026 về việc: “Yêu cầu xác định con cho cha”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 29/2026/QĐST-VDS ngày 16 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Bá K, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 30, xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 24/4/2024. Cùng địa chỉ: Thôn 30, xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp người yêu cầu ông Nguyễn Bá K trình bày:
Ông K và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật ngày 13/3/2024 tại UBND Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk. Trước đây, bà T có chồng là ông Lê Viết T1, đã ly hôn theo bản án số 19/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk.
Trong thời kì hôn nhân với ông T1 thì bà T mang thai với ông K, sinh ra một người con, dự định đặt tên là Nguyễn Anh T2, sinh ngày 24/4/2024. Do bà T mang thai với ông K trong thời kỳ hôn nhân với ông T1 nên nay ông K yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Anh T2 là cha con đẻ của ông Nguyễn Bá K.
* Quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, ngoài có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày
Bà T và ông Nguyễn Bá K là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy địn pháp luật ngày 13/3/2024 tại UBND xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, trước khi đăng ký kết hôn, trong thời gian bà T đang là vợ của ông Lê Viết T1, thì bà T có thai với ông K và sinh ra 01 người con, dự định đặt tên là Nguyễn Anh T2, sinh ngày 24/4/2024. Vì vậy, bà T đồng ý với yêu cầu của ông K về việc xác định cháu Nguyễn Anh T1 là con của ông Nguyễn Bá K.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đắk Lắk đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bá K về việc xác định cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 24/4/2024 là con đẻ của ông Nguyễn Bá K; giải quyết lệ phí dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đắk Lắk nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Bá K yêu cầu Tòa án xác định cháu Nguyễn Anh T2 là con đẻ của ông Nguyễn Bá K. Căn cứ khoản 10 Điều 29; Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk thu lý, giải quyết việc hôn nhân gia đình về việc “Yêu cầu xác định con cho cha" là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Ông Nguyễn Bá K và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật ngày 13/3/2024 tại UBND xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk. Trước đây, bà T là vợ ông Lê Viết T1; ngày 30/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành bản án số 19/2023/HNGĐ-ST để giải quyết cho bà T được ly hôn với ông T1. Trong thời kỳ hôn nhân với ông T1, bà T đã mang thai và sinh ra cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 24/4/2024. Căn cứ Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Tuy nhiên, căn cứ Kết quả xét nghiệm AND của Hội đồng khoa học Trung tâm xét nghiệm ADN Hoàn Mỹ kết luận: “Nguyễn Bá K và Nguyễn Anh T2 CÓ quan hệ huyết thống Cha – Con, tần suất 99.999999999516%”. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định cháu Nguyễn Anh T2 là con đẻ của ông Nguyễn Bá K.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Nguyễn Bá K.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 10 Điều 29; Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 370; Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 89; khoản 2 Điều 202 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bá K về việc xác định cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 24/4/2024 là con đẻ của ông Nguyễn Bá K.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký hộ tịch cho cháu Nguyễn Anh T2 theo quy định pháp luật.
[2] Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Nguyễn Bá K.
[3] Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 6 – Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Chu Văn Hồi |