vanban.org

Quyết định 33/2024/QĐ-TA

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 30/12/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: xã V, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Người bị đề nghị là anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 33/2024/QĐ-TAĐông Triều, ngày 30 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Mai Hương.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 34/QĐ - TA ngày 23 tháng 12 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T, giới tính: Nam; sinh ngày 30 tháng 8 năm 1984; CCCD số: 022084008007. Ngày cấp: 25/4/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; nguyên quán: Yên Đức, Đông Triều, Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: khu Đ, phường B, thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án: ngày 11/5/2022 Công an thị xã (nay là thành phố) Đông Triều bắt, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 30/8/2023 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; nhân thân: ngày 15/6/2019 Công an thành phố Uông Bí bắt, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”, ngày 15/8/2020 chấp hành xong hình phạt. Con ông Phạm Văn T1 (đã chết) và bà Phạm Thị D; vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Nhung, chức vụ: Chuyên viên phòng Lao động, thương binh và xã hội, thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (Văn bản ủy quyền số 311/LĐTB&XH ngày 10/4/2024 của Trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Văn T sử dụng loại ma túy từ năm 2016 (loại Heroine), hình thức sử dụng là tiêm trực tiếp vào cơ thể. T là đối tượng quản lý theo Quyết định số 33/QĐ-UBND ngày 03/4/2024 của UBND xã (nay là phường) B, thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh về việc “Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy” với thời hạn là 01 năm.

Trong thời gian bị quản lý, Tiến tiếp tục sử dụng ma túy, đến ngày 26/11/2024 Công an phường B đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn T; đồng thời đề nghị Trung tâm y tế thành phố Đông Triều tiến hành xét nghiệm để xác định tình trạng nghiện của Phạm Văn T – Kết quả: Phạm Văn T nghiện Heroine.

Ngày 27/11/2024 UBND phường B có Quyết định số 182/QĐ-UBND về việc “Dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy”, đồng thời ra Thông báo số 161/TB-UBND “V/v đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, điều trị các dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế”. Tuy nhiên sau 05 (năm) ngày làm việc, T không đăng ký, Công an phường B đã lập biên bản vi phạm số 18/BB-VP “về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” đối với Phạm Văn T.

Ngày 05/12/2024 UBND phường B có thông báo số 169/TB-UBND “V/v Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, cùng ngày T đọc hồ sơ và không có ý kiến gì.

Ngày 17/12/2024 UBND phường B có đề nghị số 267/ĐN-CNBB gửi Trưởng phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Đông Triều “xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Phạm Văn T.

Ngày 18/12/2024 Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Đông Triều có đề nghị số 1154/ĐN-CNBB về “Xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Phạm Văn T.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đông Triều có quan điểm: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T với thời gian từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều có quan điểm: việc lập hồ sơ, đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của các cơ quan có thẩm quyền và các thủ tục mở phiên họp xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán đối với Phạm Văn T, được thực hiện đúng trình tự theo quy định của pháp luật; đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T với thời gian từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng.

Anh Phạm Văn T đã được nhận Quyết định mở phiên họp của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều nhưng vắng mặt (không lý do) tại thời điểm mở phiên họp.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và kiểm sát viên, Tòa án nhận định:

[1] Về hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T của Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Đông Triều đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy.

Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Phạm Văn T là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế trong thời hạn quy định, đã bị Công an phường B lập biên bản vi phạm. Hành vi vi phạm của T thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi sử dụng ma túy của anh Phạm Văn T không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của bản thân mà còn xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy và gây nên tình trạng mất trật tự trị an tại địa phương.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và mức độ nhận thức của Phạm Văn T thấy rằng: Trong quá trình lập hồ sơ đi cai nghiện bắt buộc, T đã tự nguyện khai báo và nhận thức được hành vi vi phạm của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tuy nhiên cũng xét, Phạm Văn T nghiện ma túy từ năm 2016, đã 02 lần phải đi chấp hành án phạt tù về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bản thân không cố gắng, thay đổi mà vẫn tiếp tục nghiện ma túy. Vì vậy, cần thiết phải tiếp tục đưa T đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy với thời gian chấp hành phù hợp, để việc cai nghiện của T có kết quả tốt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 27, khoản 3 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Điều 11, Điều 12, Điều 17, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: xã V, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

3. Người bị đề nghị là anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Trưởng Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Đông Triều có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan, cá nhân thi hành quyết định: Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Đông Triều; Công an thành phố Đông Triều; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh và anh Phạm Văn Tiến.

Cỡ chữ