- Tranh chấp gì? "Quyết định xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 33/2020/QĐ-TA | C, ngày 09 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, T
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu.
2. Thư ký phiên họp: Ông Hứa Quốc Thái.
Ngày 09 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 29/QĐ - TA ngày 25 tháng 5 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Trần Quốc H Giới tính: Nam.
Sinh năm: 1994.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 8/12
Nguyên quán: xã H, huyện C, tỉnh T.
HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.
Nghề nghiệp: Làm thuê
Tiền án: 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản.
Tiền sự: 01 tiền sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy.
Con ông: Trần Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim T
(Trần Quốc H có mặt).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn H – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh T.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Ông Nguyễn Văn H - Kiểm sát viên.
3. Đại diện Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T: Ông Bùi Văn H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T.
NHẬN THẤY:
+ Tại bản tự khai của Trần Quốc H và các tài liệu trong hồ sơ thể hiện Trần Quốc H bắt đầu sử dụng ma túy vào tháng 2 năm 2020. Ngày 28/02/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T đã ban hành quyết định số 24/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn là 03 tháng. Nhưng đến ngày 20/4/2020 H tiếp tục sử dụng ma túy nên ngày 22/4/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T đã ban hành Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 56/QĐ-UBND đối với H.
+ Ngày 22/4/2020 Công an xã A lập biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Quốc H về hành vi sử dụng ma túy và tiến hành xét nghiệm nước tiểu của H thì H dương tính với ma túy và theo biên bản xét nghiệm ngày 22/4/2020 có xác nhận của Trạm y tế xã A thì Trần Quốc H dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Theo giấy xác nhận nơi cư trú ngày 23/4/2020 của Công an xã H xác định Trần Quốc H có nơi cư trú ổn định tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T. Do đó, Công an xã H lập thủ tục đề nghị Phòng tư pháp huyện C thẩm định hồ sơ, giải quyết đưa đối tượng Trần Quốc H vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tại tờ trình số 43/Ttr-P.LĐTBXH ngày 12/5/2020, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H vào Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh T.
- Tại phiên họp:
+ Đại diện Ủy ban nhân dân xã H trình bày ý kiến: Đối tượng Trần Quốc H có nơi cú trú ổn định, có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, 01 tiền sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy. H bắt đầu sử dụng ma túy vào tháng 2 năm 2020. Ngày 28/02/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T đã ban hành quyết định số 24/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn là 03 tháng. Nhưng đến ngày 20/4/2020 H tiếp tục sử dụng ma túy nên ngày 22/4/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T đã ban hành Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 56/QĐ-UBND đối với H. Trong thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thì H đã tái nghiện nên đề xuất áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H với thời hạn 18 (mười tám) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T.
+ Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị xem xét căn cứ tính pháp lý của việc lập hồ sơ và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H với thời hạn 18 (mười tám) tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T.
+ Người bị đề nghị Trần Quốc H không có ý kiến gì đối với đề nghị của Đại diện Ủy ban nhân dân xã H và Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến, nhận định quy trình lập hồ sơ, xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H đã được các cơ quan tiến hành đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H với thời hạn 18 (mười tám) tháng.
+ Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào bản tự khai của Trần Quốc H, theo biên bản xét nghiệm ngày 22/4/2020 có xác nhận của Trạm y tế xã A thì Trần Quốc H dương tính với ma túy loại Methamphetamine cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và ý kiến của Cơ quan đề nghị đã có đủ cơ sở để kết luận Trần Quốc H là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ –CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Xét hồ sơ đề nghị đã được Công an xã H, huyện C, tỉnh T lập còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 4, Điều 8, Điều 11 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ. Phòng Tư pháp huyện C có văn bản kiểm tra tính pháp lý hồ sơ và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có tờ trình đề nghị xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với H là đúng trình tự thủ tục quy định tại các Điều 12, Điều 13 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Xét hành vi vi phạm và nhân thân Trần Quốc H cho thấy H nghiện ma túy (dạng đá) bắt đầu sử dụng từ tháng 2 năm 2020. H có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản và 01 tiền sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/02/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T đã ban hành quyết định số 24/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn là 03 tháng. Nhưng đến ngày 20/4/2020 H tiếp tục sử dụng ma túy nên ngày 22/4/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T đã ban hành Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 56/QĐ-UBND đối với H. Trong thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thì H đã tái nghiện. Do đó, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho H, để H sớm tái hòa nhập cộng đồng, xã hội thì áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Do vậy, đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H thời hạn 18 (mười tám) tháng là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy để tạo điều kiện cho H sớm tái hòa nhập với cộng đồng thì thời hạn 18 (mười tám) tháng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H là phù hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp theo quy định pháp luật nên chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H.
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng. Kể từ ngày Trần Quốc H bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T.
3. Người bị đề nghị Trần Quốc H có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện C có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh T phối hợp với Công an huyện C, tỉnh T đưa Trần Quốc H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - Người bị đề nghị; - Đại diện hợp pháp của người bị đề nghị; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - Phòng LĐ-TB &XH huyện C; - UBND xã H; - Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở LĐTBXH tỉnh T; - Lưu. | THẨM PHÁN NGUYỄN KIM NGỌC GIÀU |