- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Hủy Quyết định số 56/2023/QĐST-DS ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 325/2023/QĐ-PT | Đồng Tháp, ngày 17 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
HỦY QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Thông.
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Ngọc Vạng
Bà Huỳnh Kim Oanh
- Ngày 11/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình ban hành Quyết định số 56/2023/QĐST-DS về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Bùi Văn C, sinh năm 1972
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
1.2. Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1975
Địa chỉ: Áp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1968
2.2. Bà Trần Thị Thanh V1
Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Lý do đình chỉ: Nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ mới và Tòa án cũng không xác minh được địa chỉ mới của bị đơn.
- Ngày 18/4/2023 ông C, bà Thúy V kháng cáo Quyết định số 56/2023/QĐST-DS ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
XÉT THẤY:
Theo Đơn khởi kiện ngày 28/3/2022 nguyên đơn ông C, bà Thúy V ghi địa chỉ của bị đơn ông L, bà Thanh V1 là: Tổ 23, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Công ty TNHH H cũ, phía trên cầu P, phía Đông).
Ngày 04/8/2022, Hòa giải viên có mời nguyên đơn, bị đơn làm việc. Ông C và ông L đều có mặt tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình để làm việc và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên thỏa thuận không thành nên Hòa giải viên có lập Biên bản xác nhận làm việc và ghi ý kiến của ông C và ông L, đồng thời lập Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 04/8/2022, biên bản giao nhận Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 04/8/2022. Ông L đều có ký tên vào 03 biên bản (Biên bản xác nhận làm việc, Biên bản ghi nhận kết quả, Biên bản giao nhận Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải cùng ngày 04/8/2022).
Ngày 21/10/2022 Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị Thúy V, với bị đơn ông Huỳnh Thành L1, bà Trần Thị Thanh V1.
Ngày 29/11/2022 và ngày 23/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình mời nguyên đơn và bị đơn làm việc nhưng bị đơn vắng mặt.
Theo Biên bản xác minh ngày 13/02/2023 của Công an xã B, huyện T xác nhận: “Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1968 không có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và bà Trần Thị Thanh V1, không có năm sinh không rõ Trần Thị Thanh V1 nào?”.
Ngày 11/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình ban hành Quyết định số 56/2023/QĐST-DS về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, với lý do nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ mới và Tòa án cũng không xác minh được địa chỉ mới của bị đơn.
Ngày 18/4/2023 ông C và bà Thúy V kháng cáo Quyết định số 56/2023/QĐST-DS ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình. Kèm theo đơn kháng cáo là hình ảnh chụp vị trí căn nhà của ông L.
Xét kháng cáo của ông C, bà Thúy V, Hội đồng phúc thẩm xét thấy:
Đơn khởi kiện ngày 28/3/2022 nguyên đơn ông C, bà Thúy V ghi địa chỉ của bị đơn ông L, bà Thanh V1 là: Tổ 23, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Công ty TNHH H cũ, phía trên cầu P, phía Đông) là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Kèm theo đơn kháng cáo, nguyên đơn cung cấp vị trí căn nhà (bằng hình ảnh) của ông L là thuộc Tổ B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Công ty TNHH H cũ, phía trên cầu P, phía Đông).
Theo điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điểm 2 khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “…Nơi cư trú của bị đơn là địa chỉ, chỗ ở hợp pháp mà bị đơn thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú” nên không buộc bị đơn phải đăng ký Hộ khẩu thường trú tại Tổ B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Ông L có mặt để làm việc vào ngày 04/8/2022 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình. Do đó có căn cứ chứng minh ông C, bà Thúy V cung cấp được địa chỉ của bị đơn và không thuộc trường hợp phải cung cấp địa chỉ mới.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được văn bản tố tụng cho ông L thì Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình phải tiến hành niêm yết văn bản tố tụng và giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Đây không thuộc trường hợp đình chỉ việc giải quyết vụ án theo điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông Chiến, bà Thúy V, hủy Quyết định số 56/2023/QĐST-DS ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
Căn cứ vào Điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Quyết định số 56/2023/QĐST-DS ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
2. Chuyển hồ sơ vụ án tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, giữa nguyên đơn ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị Thúy V với bị đơn ông Nguyễn Thành L cho Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình để tiếp tục giải quyết vụ án.
3. Về án phí và tiền tạm nộp án phí sẽ được giải quyết lại tại Tòa án cấp sơ thẩm.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra TAND Tỉnh ĐT; - VKSND Tỉnh ĐT; - TAND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS huyện Thanh Bình; - Đương sự; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN HỌP THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thông |