vanban.org

Quyết định 323/2026/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/03/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L.

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 14/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 323/2026/QĐ-PTVĩnh Long, ngày 12 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Lương

Bà Đặng Thị Ánh Bình

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Lữ Hồng Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham dự phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 14/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025.

Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long đã căn cứ vào Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 149, điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:

- Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân L (trước đây là Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở L1);

Địa chỉ: Khóm A, phường L, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ cũ: số D L, Khóm A, Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Quốc T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Ông Võ Quốc T ủy quyền cho ông Trần Quốc T1, chức vụ: Cán bộ tín dụng.

- Bị đơn: Ông Thạch Thanh D, sinh năm 1972.

Địa chỉ: khóm S, phường L, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ cũ: ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Lý Thị T2, sinh năm 1952.

2/ Ông Hà Quốc N, sinh năm 1950.

3/ Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974.

4/ Bà Hà Mộng T3, sinh năm 1977.

5/ Chị Hà Mộng T4, sinh năm 1997.

6/ Chị Hà Mộng T5, sinh năm 1999.

Cùng địa chỉ: ấp Ô, xã T, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ cũ: ấp Ô, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh).

7/ Ông Phạm Thành T6, sinh năm 1978;

Địa chỉ: khóm K, phường L, tỉnh Vĩnh Long (địa chỉ cũ: ấp K, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh).

Tại đơn kháng cáo ngày 03 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long với nội dung: Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10

- Vĩnh Long và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết theo quy định.

XÉT THẤY:

Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình khởi kiện yêu cầu ông Thạch Thanh D trả cho Q tín dụng nhân dân Long Bình số tiền 408.918.500 đồng (Trong đó: tiền gốc là 150.000.000 đồng và tiền lãi 258.918.500 đồng gồm: lãi trong hạn 25.481.000 đồng tính từ ngày 25/3/2017 đến hết ngày 25/01/2018, lãi quá hạn 233.437.500 đồng tính từ ngày 26/01/2018 đến hết ngày 15/3/2013 và tiền lãi phát sinh phải trả từ ngày 16/3/2023 đến khi trả hết nợ theo lãi quá hạn ghi trên Hợp đồng thế chấp và cầm cố.

Trường hợp ông Thạch Thanh D không trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền có biện pháp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. tài sản thế chấp gồm:

- Thửa đất số 357, tò bản đồ số 0005, loại đất Thổ quả, diện tích 3.730m2, tại xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 724659 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 30/6/1994 do bà Lý Thị T2 đứng tên.

Căn cứ khởi kiện là do ông Thạch Thanh D vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 20/01/2027 ngày 23/01/2017.

Tại biên bản làm việc ngày 15/7/2022 giữa Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở L và ông Thạch Thanh D thì ông D đã thừa nhận rằng: Chữ ký trong hồ sơ là của tôi (ông D); Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/9/2025 thì ông D thừa nhận rằng có ký tên tại Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình 02 lần nhưng cả 02 lần đều không biết ký văn bản gì do nội dung đã bị che lại, có nhận thù lao 1.500.000 đồng của ông Thạch Lý T7;

Ngày 28/11/2025, bà Lý Thị T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngày 08/9/2025, ông Thạch Thanh D có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện với lý do: Việc Quỹ tín dụng nhân dân L2 khởi kiện ông để đòi nợ đã hết thời hiệu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của ông Thạch Thanh D và yêu cầu Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình cung cấp tài liệu, chứng cứ: Quỹ tín dụng nhân dân L đã yêu cầu ông Thạch Thanh D thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng thế chấp và cầm cố số 28/01/2027 ngày 23/01/2027 khi khoản nợ đã quá hạn hoặc chứng cứ chứng minh Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với khoản nợ nêu trên của ông Thạch Thanh D nhưng Quỹ tín dụng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Theo đó, tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, cấp sơ thẩm căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Xét thấy, trường hợp này Quỹ tín dụng xác định ông D vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 26/01/2018 nhưng đến ngày 15/3/2023 mới tiến hành khởi kiện tại Toà án, yêu cầu ông D trả vốn vay và lãi theo Hợp đồng tín dụng là đã hết thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, Như vậy, Quỹ tín dụng có thể khởi kiện ông D yêu cầu đòi lại tài sản là số tiền vốn vay 150.000.000 đồng. Theo đó, cấp sơ thẩm áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện dựa trên yêu cầu của ông D, nhưng lại không xét đến trường hợp xác định lại quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản của Quỹ tín dụng đối với số tiền gốc đã vay còn lại mà căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án là áp dụng chưa đầy đủ, toàn diện các quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.

Ngày 08/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long ra Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 14/2025/QĐ-SCBSQĐ đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên với nội dung:

- “Về quyền khởi kiện: Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp”. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

- “Về quyền khởi kiện: Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ trường hợp khởi kiện yêu cầu giải quyết về tiền nợ gốc và tài sản thế chấp” .

Căn cứ khoản 1 Điều 268 của của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai”. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long ra Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy cần huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 14/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng phiên họp đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L.

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 121/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 14/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Quỹ tín dụng nhân dân L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Q tín dụng nhân dân Long Bình số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0004309 ngày 06/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ