- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Thị Mộng K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Mộng K:
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 323/2019/QĐST-DS | Tân Bình, ngày 31 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Lê Diễm Thúy - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 281/2019/TLST-DS ngày 21/5/2019 về việc “Yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 12/2019/QĐST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Mộng K, sinh năm: 1989, địa chỉ thường trú: Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú: xã T, huyện B, tỉnh L (bà K có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Ngọc T1, sinh năm: 1981, địa chỉ: phường B, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh (ông T1 vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Lê Xuân N, sinh năm: 1962, địa chỉ: xã T, huyện B, tỉnh L (bà N có mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Phạm Thị Mộng K trình bày: Bà và ông Võ Ngọc T chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân Phường X, quận Y. Sau khi sinh con vào năm 2009, bà Kiều nghĩ là mình bị bệnh trầm cảm và do mâu thuẫn gia đình nên chán nãn và bỏ nhà đi, sống không có nơi cư trú ổn định và cắt đứt mọi liên hệ với người thân, không cho chồng và gia đình, bạn bè biết mình đang ở đâu. Đến năm 2017 bà trở về thì gia đình chồng đã chuyển chỗ ở khác, bà không tìm được. Đến gần đây, qua hỏi thăm nhiều người thì bà mới biết gia đình ông T1 chuyển về sinh sống ở tại địa chỉ phường B, quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà tìm đến nơi thì được biết chồng bà là ông Võ Ngọc T1 đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố bà mất tích và bà được gia đình chồng giao cho Quyết định số 195/2016/QĐST-DS ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố bà mất tích kể từ ngày 02/01/2012 theo yêu cầu của ông Võ Ngọc T1.
Ngày 02/5/2019 bà Phạm Thị Mộng K nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình hủy bỏ quyết định tuyên bố bà mất tích.
Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Ngọc T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến nào đối với yêu cầu của bà K.
Bà Lê Xuân N là người làm chứng khai: Bà Phạm Thị Mộng K là con ruột của bà. Năm 2009 bà K buồn chuyện gia đình và tưởng bị bệnh nên bỏ nhà đi, không liên lạc với gia đình. Ông Võ Ngọc T1 là chồng bà K đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố bà K mất tích. Nay bà N xác định con gái bà là Phạm thị Mộng K đã trở về nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo yêu cầu của bà K.
Tại phiên họp, bà K vẫn giữ yêu cầu và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy quyết định tuyên bố bà mất tích, ngoài ra bà Kiều không có yêu cầu gì khác. Bà Lê Xuân N không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến tại phiên họp như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Bà Phạm Thị Mộng K có đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích. Đây là việc cá nhân không có tranh chấp yêu cầu tòa án công nhận một sự kiện pháp lý nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 146; Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự năm 2015.
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên họp thấy rằng, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại điều 48 Bộ luật TTDS năm 2015 cụ thể: Thủ tục thụ lý vụ việc đúng theo quy định tại điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Vụ việc thụ lý ngày 21/5/2019 đến ngày 03/7/2019 Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự là đúng thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định tại khoản 1 điều 366, Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ nên căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên có sự tham gia của Viện kiểm sát là đúng quy định.
Về thời gian gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát: Thẩm phán chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng quy định khoản 3 Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với người yêu cầu: Từ khi thụ lý việc dân sự đến nay thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai các đương sự liên quan nhận thấy:
Căn cứ vào bản tự khai, đơn đề nghị của chị Phạm Thị Mộng K, lời khai của bà Lê Xuân N (mẹ chị K) và các tài liệu, chứng cứ khác đều khẳng định chị Phạm Thị Mộng Kđã trở về, hiện đang tạm trú tại xã T, huyện B, tỉnh L, phù hợp lời khai của chị Phạm Thị Mộng K.
Riêng anh Võ Ngọc T1 (chồng chị K) là người liên quan trong quá trình thụ lý Tòa đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho các đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện đúng theo quy định Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa không ghi nhận được ý kiến của anh T1.
Xét thấy chị Phạm Thị Mộng K1 đã trở về địa phương, chị yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người mất tích số 195/2016/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2016, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố chị Phạm Thị Mộng K1 mất tích là chính đáng, có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 370, 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 70 Bộ luật dân sự nên đế nghị Tòa án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Mộng K1 có đơn yêu cầu hủy quyết định của Tòa án nhân dân quận Tân Bình về việc tuyên bố bà mất tích . Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm c khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Ngọc T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp lần thứ 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông T1.
Xét yêu cầu của bà Phạm Thị Mộng K1: Bà Phạm Thị Mộng K1 và ông Võ Ngọc T1là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào năm 2009. Quá trình chung sống, do tưởng mình bị bệnh nên bà K chán nãn và bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2009, không có tin tức, địa chỉ. Ông T1 đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà K mất tích và tại Quyết định số 195/2016/QĐST-DS ngày 24/5/2016 Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố bà Phạm Thị Mộng K mất tích kể từ ngày 02/01/2012. Nay bà K đã trở về và yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố bà mất tích là đúng với quy định tại Điều 390 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 70 bộ luật dân sự 2015 nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà K.
Tại Quyết định tuyên bố một người mất tích số 195/2016/QĐST-DS ngày 24/5/2016 không đề cập việc quản lý tài sản của bà Kiều và bà K không có yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí: Bà Phạm Thị Mộng K phải chịu lệ phí 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 390 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ điều 70 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 điều 37 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Mộng K:
Hủy bỏ quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích số 195/2016/QĐST-DS ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bà Phạm Thị Mộng K.
Hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích được thực hiện theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật dân sự.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Phạm Thị Mộng K chịu, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà K đã nộp theo biên lai thu số 0038410 ngày 13/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Mộng K có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Võ Ngọc T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND Q.Tân Bình; - Chi cục Thi hành án DS Q.TB; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Lê Diễm Thúy |