vanban.org

Quyết định 322/2026/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/03/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L.

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 28/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 322/2026/QĐ-PTVĩnh Long, ngày 12 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Lương

Bà Đặng Thị Ánh Bình

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Lữ Hồng Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham dự phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 28/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025.

Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long đã căn cứ vào Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 149, điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:

- Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân L.

Người đại diện theo pháp luật của Quỹ tín dụng nhân dân L: Ông Võ Quốc T, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Số D L, Khóm A, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Kiên C, sinh năm: 1970 (chết ngày 20/6/2024).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Kiên C:

1/ Bà Thạch Thị H, sinh năm: 1971.

2/ Bà Kiên Thị H1, sinh năm: 1991.

3/ Kiên L, sinh năm: 1992.

4/ Kiên H2, sinh năm: 2003.

5/ Kiên Thị H3.

Cùng địa chỉ: ấp S, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1959.

Địa chỉ: ấp C, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Ông Phạm Thành T1, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: ấp K, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Ông Nguyễn Văn Tiến A.

4/ Ông Nguyễn Văn Tiến E, sinh năm: 1968.

5/ Chị Nguyễn Thị Kiều N, sinh năm: 1982.

Cùng địa chỉ: ấp C, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

Tại đơn kháng cáo ngày 28 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long với nội dung: Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết theo quy định.

XÉT THẤY:

Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình khởi kiện yêu cầu ông Kiên C trả cho Q1 tín dụng nhân dân L tổng số tiền: 1.246.723.300 đồng (Trong đó, số tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn: 126.713.300 đồng, lãi quá hạn: 620.010.000 đồng, tính từ ngày 17/11/2016 đến hết ngày 22/3/2022 và tiền lãi phát sinh phải trả từ ngày 23/3/2022 đến khi trả hết nợ theo lãi suất quá hạn ghi trên hợp đồng).

Trường hợp ông Kiên C không trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền có biện pháp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. tài sản thế chấp gồm:

- Thửa đất số 105, diện tích đất 5.973,5m2, tờ bản đồ số 44, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 474307 được UBND huyện C cấp ngày 04/7/2012 cho hộ bà Nguyễn Thị Q đứng tên;

- Thửa đất số 136, diện tích đất 6.131m2, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 267632 được UBND huyện C cấp ngày 17/10/2024 cho hộ bà Nguyễn Thị Q đứng tên;

Căn cứ khởi kiện là do ông Kiên C vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 31/11/2016 ngày 17/11/2016.

Ngày 09/12/2024, bà Nguyễn Thị Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngày 29/9/2025, bà Kiên Thị H1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Kiên C có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện với lý do: Việc Quỹ tín dụng nhân dân L1 khởi kiện ông Kiên C để đòi nợ đã hết thời hiệu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q, bà Kiên Thị H1 và yêu cầu Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình cung cấp tài liệu, chứng cứ: Yêu cầu Quỹ tín dụng nhân dân L cung cấp cho Tòa án toàn bộ các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng minh thời hiệu khởi kiện trong vụ án này vẫn còn; Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27/9/2025 ông Trần Quốc T2 là người đại diện hợp pháp của Quỹ tín dụng nhân dân L1 trình bày: Ngoài những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn chỉ cung cấp thêm được biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay ngày 23/7/2019, ngày 23/02/2022 có ký xác nhận của ông Kiên C, nguyên đơn không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ chứng minh gì thêm và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh thời hiệu khởi kiện trong vụ án nêu trên. Theo đó, tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Xét thấy, trường hợp này Quỹ tín dụng xác định ông Kiên C vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 18/02/2018 nhưng đến ngày 22/3/2022 mới tiến hành khởi kiện tại Toà án, yêu cầu ông Kiên C trả vốn vay và lãi theo Hợp đồng tín dụng là đã hết thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, Quỹ tín dụng có thể khởi kiện ông Kiên C yêu cầu đòi lại tài sản là số tiền vốn vay 500.000.000 đồng. Theo đó, cấp sơ thẩm áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện dựa trên yêu cầu của bà Q, bà H3, nhưng lại không xét đến trường hợp xác định lại quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản của Quỹ tín dụng đối với số tiền gốc đã vay còn lại mà căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án là áp dụng chưa đầy đủ, toàn diện các quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.

Ngày 21/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long ra Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 28/2025/QĐ-SCBSQĐ đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên với nội dung:

- “...Về quyền khởi kiện: Nguyên đơn quỹ tín dụng nhân dân L không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp...”. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

- “...Về quyền khởi kiện: Quỹ tín dụng nhân dân Long Bình không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ trường hợp khởi kiện yêu cầu giải quyết về tiền nợ gốc và tài sản thế chấp...”.

Căn cứ khoản 1 Điều 268 của của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai”. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long ra Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy cần huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 131/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 28/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng phiên họp đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân L.

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 131/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long và hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 28/2025/QĐ-SCBSQĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Quỹ tín dụng nhân dân L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Q1 tín dụng nhân dân Long Bình số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0008847 ngày 07/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ