vanban.org

Quyết định 32/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 10/02/2025). Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Phạm Thương N) có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/QĐ-TAGiồng Riềng, ngày 11 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Danh Thanh Phát.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thái Trang.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 35/QĐ-TA ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Phạm Thương N. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 10/8/2003.

Số căn cước công dân: 091203013088.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 6/12.

Nơi thường trú: Ấp Tà Yểm, xã Bàn Thạch, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Ấp Tà Yểm, xã Bàn Thạch, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Không.

Con ông Phạm Phước G và bà Lê Thị H.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Chí V - chức vụ: Trưởng Công an xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang: Ông Bùi Minh Tâm - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị là Phạm Thương N đang chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, kể từ ngày 10/7/2024 đến ngày 10/7/2026, theo quyết định số: 175/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Trong thời gian chấp hành quyết định nêu trên, Phạm Thương N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (sử dụng ngày 10/02/2025), kết quả xét nghiệm là nghiện ma túy. Do đó, Ủy ban nhân dân xã B, huyện G lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 20/02/2025, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Kiên Giang ban hành văn bản số: 29/ĐN-LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xem xét, áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N.

Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị tại phiên họp: Phạm Thương N là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện và kết quả xét nghiệm là nghiện ma túy. Căn cứ vào Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang, thời gian từ 15 đến 18 tháng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (gọi tắt là Pháp lệnh số 03). Xét thấy, Phạm Thương N có hành vi sử dụng ma túy trái phép, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Căn cứ vào khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Pháp lệnh số 03 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an xã B, huyện G.

Tại phiên họp, Phạm Thương N thừa nhận ngày 10/02/2025 có sử dụng trái phép chất ma túy, việc sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện là vi phạm pháp luật; đồng ý cai nghiện bắt buộc, thời gian đề nghị Tòa án xem xét là 15 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N đã thực hiện đúng theo quy định tại điểm a - d khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và hồ sơ đề nghị có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020. Do đó, hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và kết quả xem xét tại phiên họp có đủ cơ sở xác định: Phạm Thương N đang chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn là 02 năm (kể từ ngày 10/7/2024 đến ngày 10/7/2026), theo quyết định số: 175/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, trong thời gian chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (sử dụng ngày 10/02/2025) và kết quả xét nghiệm là nghiện ma túy, điều này cho thấy Phạm Thương N không đủ khả năng để tự cai nghiện mặc dù đã được tổ chức, cá nhân có liên quan giúp đỡ, quản lý và giáo dục trong thời gian chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy.

Phạm Thương N là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, hành vi vi phạm được thực hiện với lỗi cố ý và nguy hiểm cho bản thân, cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến phát sinh tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Phạm Thương N đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong quyết định ngày 14/6/2024 đến ngày 10/02/2025 tái phạm). Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình làm việc (theo các tờ tường trình, biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính) và tại phiên họp, Phạm Thương N đã tự nguyện khai báo thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nên có căn cứ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp, Phạm Thương N nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và đồng ý cai nghiện bắt buộc.

Do đó, đề nghị của Công an xã B, huyện G đưa Phạm Thương N vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và đúng đối tượng theo khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên chấp nhận.

Hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp nên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, tạo điều kiện để Phạm Thương N cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng là cần thiết. Đồng thời, cũng nhằm răn đe và phòng ngừa chung những hành vi vi phạm trong xã hội, vì hiện nay tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng về số lượng, có tính chất ngày càng phức tạp và đối tượng sử dụng đa số là những thanh thiếu niên tuổi đời còn rất trẻ.

Sau khi xem xét về tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Xét thấy, mức đề nghị của Trưởng Công an xã B, huyện G, đề nghị áp dụng đối với Phạm Thương N là tương xứng với hành vi vi phạm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý.

Khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a-d khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 104 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Khoản 1 Điều 24, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Điều 16 của Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 “Quy định về xử lý vấn đề liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G1, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước”.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thương N, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 10/02/2025).

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Phạm Thương N) có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Kiên Giang.

Cỡ chữ