- Tranh chấp gì? "Đưa đi cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số 80 đường H, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S đối với Trần Vũ (Vủ) P, sinh năm 1989.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _____________ Số: 32/QĐ-TA | Trần Đề, ngày 31 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
2. Thư ký phiên họp: Bà Lý Thị Qual.
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số 80 đường H, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S. Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 25/QĐ-TA ngày 20 tháng 5 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Trần Vũ (Vủ) P. Giới tính: Nam (Có mặt).
Sinh năm: 1989.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 11/12.
Nguyên quán: Xã S, huyện L, tỉnh S.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã A, huyện C, tỉnh S.
Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Trần Văn H (sống) và bà Hồ Thị Đ (sống).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Quốc A - Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S (có mặt).
Địa chỉ: Khu Hành chính T, ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Ông Nguyễn Kiến T - Kiểm sát viên (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Anh Trần Vũ (Vủ) P đã vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
Vào ngày 15/4/2021, Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh S mời anh P làm việc vì nghi vấn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc anh P thừa nhận vào ngày 12/4/2021 anh có sử dụng ma túy dạng đá, hình thức sử dụng là hút. Công an thị trấn T có văn bản số 17/CATT ngày 16/4/2021 đề nghị Trung tâm y tế huyện T xác định tình trạng nghiện của anh P. Trung tâm y tế huyện T xác định anh P nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Qua xác minh, anh Trần Vũ (Vủ) P không có nơi cư trú ổn định.
Vào ngày 16/4/2021, Công an thị trấn T đã có bản đề nghị số 18/ĐN-CATT đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T ra Quyết định giao anh Trần Vũ (Vủ) P cho cơ sở cai nghiện quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị là ông Trần Quốc A: Anh Trần Vũ (Vủ) P là người trên 18 tuổi, được xác định là người nghiện chất ma túy (Methamphetamine), không có nơi cư trú ổn định. Căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S đề nghị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh Trần Vũ (Vủ) P vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số 80 đường H, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S, với thời hạn là 24 tháng để được cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của người bị đề nghị: Anh Trần Vũ (Vủ) P thừa nhận bản thân bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2020. Trong năm 2020, mỗi ngày anh sử dụng ma túy từ 01-02 lần. Riêng năm 2021, anh cũng sử dụng ma túy nhiều lần nhưng trước khi Công an phát hiện anh sử dụng ma túy vào ngày 12/4/2021 thì anh đã ngưng sử dụng trước đó khoảng 02 tháng. Ngày 12/4/2021, khi anh vừa sử dụng ma túy lại thì ngày 15/4/2021 anh bị Công an thị trấn T lập biên bản vi phạm hành chính. Nay anh đồng ý đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng anh xin giảm thời gian cai nghiện còn 18 tháng để anh sớm trở về lo cho hai con còn nhỏ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Trường hợp của anh Trần Vũ (Vủ) P đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
Về trình tự, thủ tục: Người đề nghị đã thực hiện đúng với quy định tại Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về hành vi vi phạm: anh Trần Vũ (Vủ) P thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và kết quả trả lời của cơ quan chuyên môn xác định anh P đã nghiện ma túy tổng hợp Methamphetamine. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của anh P là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí tuệ của bản thân, là gánh nặng cho gia đình và xã hội, làm hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an. Ngoài ra, nghiện ma túy là một tệ nạn xã hội gây khó khăn cho Nhà nước trong việc phòng chống các tác hại của ma túy gây ra, dẫn đến những hệ lụy xấu cho xã hội. Do đó Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S đối với anh P, để được cai nghiện bắt buộc, với thời gian là 24 tháng theo quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Theo kết quả xác minh thì anh Trần Vũ (Vủ) P có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ ấp V, xã A, huyện C, tỉnh S nhưng hiện nay anh P không có mặt tại địa phương. Anh P đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không rõ. Theo kết quả xác minh của Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh S thì anh P không có đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú tại thị trấn T. Hiện nay, anh P sống lang thang trên địa bàn thị trấn T, thường xuyên tụ tập với các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn. Do đó hồ sơ xác định anh P không có nơi cư trú ổn định là có căn cứ.
Xét hành vi vi phạm của anh P thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Điều 95 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, nên đề nghị của Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.
Xét về lời trình bày của anh Trần Vũ (Vủ) P: Anh P đồng ý đi cai nghiện bắt buộc nhưng anh xin giảm thời gian cai nghiện còn 18 tháng để anh sớm trở về lo cho hai con còn nhỏ. Xét thấy, cơ quan chuyên môn xác định anh P đã nghiện ma túy tổng hợp Methamphetamine. Bản thân anh P không có nghề nghiệp, không có nơi cư trú ổn định. Trường hợp của anh P theo quy định của pháp luật thuộc trường hợp phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, không có cơ sở để giảm thời gian cai nghiện cho anh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S. Địa chỉ: Số 80 đường H, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S đối với Trần Vũ (Vủ) P, sinh năm 1989.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh S phối hợp với Công an huyện T, tỉnh S đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh S (Phòng KTNV&THA); - Trần Vũ (Vủ) P; - Trưởng Công an huyện T; - Trưởng Phòng LĐTB &XH huyện T; - UBND thị trấn Trần Đề, huyện T; - VKSND huyện T; - UBND xã A,huyện C,tỉnhS; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đặng Thị Ngọc Trân |