vanban.org

Quyết định 32/2024/QĐST-DS — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 24/07/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 104 /2020/TLST- DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất ” giữa: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T sinh năm 1931

Địa chỉ: Số 2 ngõ 1 đường Lê Hồng Phong, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1958 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 104 /2020/TLST- DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất ” giữa: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T sinh năm 1931
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32 /2024/QĐST-DSHoàng Mai,ngày 24 tháng 07 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các điều 48, 192, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 104 /2020/TLST- DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất ” Xét thấy: Qua kiểm tra hồ sơ khởi kiện của ông Nguyễn Duy T, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, nhận thấy trong các tài liệu chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện chỉ có những tài liệu chứng cứ, chứng minh liên quan đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc về Toà án, theo quy định tại điều 100 luật Đất Đai 2013, nhưng không có biên bản hoà giải tranh chấp đất đai giữa ông T ( Nguyên đơn) và (Bị đơn) gồm những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Duy M. Như vậy, đã vi phạm quy định tại khoản 4 điều 202 luật Đất đai năm 2013;khoản 2 điều 88 Nghị Định số 43/2014/NĐ- CP, Khoản 2 Điều 3, Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP TAND TC Điều 202 luật Đất đai quy định: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. * Điều 88/Nghị Định số 43/2014 quy định: Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

1. Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;

b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

2. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

3. Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

4. Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại Khoản 5 Điều 202 của Luật Đất đai.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

* Khoản 2 Điều 3, Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định:

2. Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Qua xem xét những quy định pháp luật nội dung và hình thức nêu trên, đồng thời xem xét xử lý đối với đơn đề nghị đình chỉ vụ án ngày 05/07/2024, của Luật sư Phạm Thị Hương – Công ty luật Hùng Vương- Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. (Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà: Nguyễn Thị Hoà) Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 104 /2020/TLST- DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất ” giữa: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T sinh năm 1931

Địa chỉ: Số 2 ngõ 1 đường Lê Hồng Phong, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội

Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1958

Địa chỉ: X.M, xã V.T, huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hoà Bình

2. Bà Nguyễn Thị H, Sinh năm 1960

3. Nguyễn Thị M, Sinh năm 1961

4. Nguyễn Thị B, Sinh năm 1958

5. Nguyễn Thị L, Sinh năm 1963

Địa chỉ: Lô 13, đường N.C.T, KĐT Đ.K Mới, phường Đ.K, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Trả lại Nguyên đơn: ông Nguyễn Duy T đơn khỏi kiện và toàn bộ tài liệu kèm theo đơn khởi kiện.

- Nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án khi đủ điều kiện khởi kiện, theo quy định tại khoản 1 điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về án phí: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí và án phí nên Toà án không xem xét.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ