vanban.org

Quyết định 32/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phan Thanh L.

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị Tuyết N , sinh năm 1993. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 7, phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk, mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phan Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2023/QĐST-VDSBuôn Ma Thuột, ngày 27 tháng 11 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Mai

Thư ký phiên họp: Ông Y Kăn Niê

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 22/2023/TLST-VDS ngày 09 tháng 6 năm 2023, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 84/2023/QĐST-VDS ngày 22 tháng 11 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan Thanh L- sinh năm 1993 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tuyết N - sinh năm 1993(Vắng mặt).

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 7, phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố mất tích của người yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cùng lời khai của người yêu cầu thể hiện:

Ông L và bà N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk vào năm 2013. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nên từ năm 2020 bà N đã bỏ nhà đi,Ông L và gia đình đã đi tìm nhưng vẫn không có thông tin gì. Nay Ông L yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà N mất tích.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên họp:

Ông Long và bà N sống chung có đăng ký kết hôn với nhau, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên từ năm 2020, bà N đã bỏ nhà đi cho đến nay không về, gia đình và chính quyền địa phương không ai biết bà N đang ở đâu, làm gì. Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành các thủ tục thông báo nhắn tin tìm bà N trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Qua xác minh tại nơi cư trú cuối cùng thì bà N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2020 cho đến nay. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột chấp nhận đơn của ông Phan Thanh L , tuyên bố bà Nguyễn Thị Tuyết N mất tích; Lệ phí việc dân sự và lệ phí đăng thông báo nhắn tin,Ông L phải theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:Ông L và bà N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk vào năm 2013. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2020 bà N đã bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Qua xác nhận tại địa phương nơi cư trú cuối cùng thì bà N đã bỏ đi khỏi địa phương và không thông báo cho chính quyền địa phương từ năm 2020 cho đến nay. Hiện nay bà N đi đâu, làm gì địa phương không biết. Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên phương tiện thông tin đại chúng và đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì.

Xét yêu cầu của Ông L tuyên bố bà N mất tích là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận.

Về lệ phí:Ông L phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin: Ông L phải chịu 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo nhắn tin tìm kiếm bà N được khấu trừ vào số tiền 2.425.000 đồng màÔng L đã nộp để đăng thông báo, nhắn tin.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149,khoản 2 Điều 367; Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phan Thanh L.

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị Tuyết N , sinh năm 1993. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 7, phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk, mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Phan Thanh Lphải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí mà H đã nộp thay theo biên lai số 0002726 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin: Ông Phan Thanh L phải chịu 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo nhắn tin tìm kiếm bà N được khấu trừ vào số tiền 2.425.000 đồng mà Ông L đã nộp để đăng thông báo, nhắn tin.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ