- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng N và Trần Đinh T yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Ccứ Điều 51, 55, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 32/2023/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
T phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hà Ngân
Thư ký phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Linh Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 209/2022/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 11 năm 2022 về “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 30/2023/QĐ-ST ngày 17/02/2023 giữa những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1994; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Nam Bắc T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Hiện đang lao động tại Đài Loan)
2. Anh Trần Đình T, sinh 1992; Địa chỉ: Thôn Nam Bắc T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh
(Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đình T là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 22/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn được một thời gian, vợ chồng sang Đài Loan làm ăn cho đến tháng 10/2017 thì anh T về nước và thời gian này vợ chồng vẫn thường X liên lạc, quan tâm đến nhau. Tuy nhiên được một thời gian thì chị và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người thường X bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống nên xảy ra xích mích, cãi cọ dẫn đến cuộc sống chung hết sức nặng nề. Đến tháng 9/2018 mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng và đến nay không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị Nguyễn Thị Hồng N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Đình T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày quá trình chung sống giữa chị và anh Trần Đình T không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài các nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Thị Hồng N cũng trình bày do điều kiện chị đang lao động ở nước ngoài không thể về tham gia giải quyết việc ly hôn với anh Trần Đình T nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đối với anh Trần Đình T, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi và thực hiện niêm yết thông báo thụ lý vụ án cũng như thông báo làm việc cho anh nhưng anh không đến làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về các nội dung mà chị N yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, để có Ccứ giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Trần Đình T thông qua ông Trần Đình là bố đẻ của anh và được ông Ccung cấp thông tin anh T có hộ khẩu thường trú tại thôn Nam Bắc T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, hiện nay anh T đang làm ăn tại tỉnh Bình Dương và vẫn thường X liên lạc về với gia đình nhưng gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh T để cung cấp cho Tòa án.
Mặt khác, quá trình xác minh ông Trần Đình C đã kết nối điện thoại thông qua ứng dụng Zalo bằng hình ảnh với tên người nghe là “Cu Can” và được ông C xác nhận đó là anh Trần Đình T con trai ông và là chồng của chị Nguyễn Thị Hồng N. Thông qua cuộc gọi, anh Trần Đình T trình bày hiện nay anh đang làm ăn ở Bình Dương và đã biết việc chị Nguyễn Thị Hồng N làm đơn xin ly hôn với anh nhưng do công việc không cố định nên anh không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của anh cho Tòa án. Nay anh T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên anh thống nhất thuận tình ly hôn và các vấn đề khác như chị N yêu cầu, đồng thời anh T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh theo quy định.
Xét thấy, chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, con chung, tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, Tòa án đã Ccứ quy định tại Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển quan hệ pháp luật đã thụ lý là việc hôn nhân và gia đình.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, người yêu cầu giải quyết việc ly hôn và phân tích nội dung các đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau nên đề nghị Tòa án áp dụng Điều 149, Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 55, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hồng N hiện đang làm việc tại Đài Loan, các giấy tờ chị gửi về yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn đều có xác nhận của Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc và được ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Cẩm D nộp cho Tòa án nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết vụ việc chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T đều có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Ccứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc ly hôn vắng mặt chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu do chị Nguyễn Thị Hồng N cung cấp và quá trình Tòa án xác minh thể hiện chị N và anh T có đăng ký kết hôn vào ngày 22/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh nên hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của chị N và anh T là do thường X bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, chia sẽ với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt không thể hàn gắn.
Ccứ theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn ... thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T xảy ra từ lâu nhưng vợ chồng không có ý định hàn gắn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và sự thỏa thuận của hai người là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T để hai người sớm ổn định cuộc sống.
Quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T không có con chung nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Ccứ Điều 51, 55, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Đình T.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện chịu 300.000đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị Hồng N. Số tiền 300.000đồng chị N đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000356, ngày 31/10/2022 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Đương sự ; - UBND xã Cẩm T; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN - CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Nguyễn Hà Ngân |