- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Kim Danh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D.
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TRÀ VINH Số: 32/2023/QĐ-TA | Trà Cú, ngày 16 tháng 10 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Thạch Thuône
2. Thư ký phiên họp: Bà Kim Thị Bô Na
Ngày 16 tháng 10 năm 2023, tại Phòng họp, Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 32/QĐ-TA ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Kim Danh, sinh ngày 01/01/1989; giới tính: Nam.
Số CMND/CCCD/số định danh cá nhân: 084098013941; ngày cấp 12/6/2022; nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (Cục C1).
Dân tộc: Khmer
Tôn giáo: Phật giáo.
Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12;
Nguyên quán: xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Nghề nghiệp: Làm thuê (Xe ôm)
Tiền án: Không có.
Tiền sự: Không có.
Con ông Kim C và bà Kim Thị P.
Ông Kim D vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Vũ P1 - Phó Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt tại phiên họp).
2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (có mặt tại phiên họp).
NHẬN THẤY
Người bị đề nghị ông Kim D vi phạm hành chính, cụ thể như sau:
- Ngày 26/3/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 29/3/2023 bị Công an xã K kiểm tra phát hiện, lập biên bản vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.
- Ngày 03/4/2023 Ủy ban nhân dân xã K có Quyết định số 30a/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với ông Kim D.
- Ngày 11/9/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 12/9/2023 bị Công an xã K kiểm tra phát hiện, lập biên bản vi phạm, xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng và cũng cố hồ sơ đề nghị Trung tâm Y tế huyện T xác định tình trạng nghiện đối với ông Kim D. Ngày 15/9/2023 Trung tâm y tế huyện T có phiếu trả lời kết quả xác định ông Kim D có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là A.
- Ngày 15/9/2023 Ủy ban nhân dân xã K ra Quyết định số 65/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với ông Kim D. Đồng thời, ngày 15/9/2023 Ủy ban nhân dân xã K lập biên bản hướng dẫn ông Kim D đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại sơ sở cai nghiện ma túy. Do ông Kim D không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Ủy ban nhân dân xã K lập biên bản vi phạm về cai nghiện tự nguyện.
- Ngày 27/9/2023 Công an xã K ra Thông báo số 04 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D.
- Ngày 26/9/2023 Ủy ban nhân dân xã K ra Quyết định số 73/QĐ-UBND về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D.
- Ngày 04/10/2023 Ủy ban nhân dân xã K có Tờ trình số: 02/TTr-CNBB về việc đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D.
- Ngày 05/10/2023 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xem xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D.
Tại phiên họp: Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T vẫn giữ nguyên nội dung đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xem xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D với thời hạn đề nghị 12 tháng.
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị nhận thấy: Ông Kim D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng; đã bị Ủy ban nhân dân xã K áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 31/3/2023. Đến ngày 11/9/2023 ông D tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã K kiểm tra phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời đề nghị Trung tâm Y tế huyện T xác định tình trạng nghiện. Trung tâm y tế huyện T có phiếu trả lời kết quả xác định ông Kim D có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là A; ông D đã được hướng dẫn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại sơ sở cai nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D là có căn cứ đúng quy định. Vì vây, đề nghị áp dụng Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 3, Điều 23 Pháp lệnh số 03 trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân để xem xét chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát.
XÉT THẤY
Về thẩm quyền xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa.
Về thời hiệu và đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng quy định tại Điều 6 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 96, 103 và 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ như: Các biên bản kiểm tra chất ma túy, biên bản vi phạm hành chính, các tờ tường trình của người bị đề nghị, phiếu trả lời kết quả của Trung tâm Y tế huyện T và các tài liệu khác đã được thẩm tra, xem xét tại phiên họp có đủ cơ sở để kết luận: Ông Kim D là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, nhiều lần sử dụng ma túy đã được Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Trà Vinh xác định nghiện ma túy; loại ma túy mà ông Kim D sử dụng sử dụng là A. Mặc dù, đã được hướng dẫn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại sơ sở cai nghiện ma túy nhưng ông D không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Do đó, việc Ủy ban nhân dân xã K lập hồ sơ và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D là có căn cứ, đúng đối tượng theo quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, ma túy là chất gây nghiện có tác hại hủy hoại sức khỏe, tinh thần, cũng như gây thiệt hại về kinh tế đối với bản thân người sử dụng; đối với xã hội sẽ gây phát sinh nhiều tệ nạn như mại dâm, trộm, cướp,... Việc này đã được Đảng, Nhà nước tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong học đường về tác hại của ma túy đồng thời Nhà nước đã ban hành Luật phòng, chống ma túy để phòng ngừa nhưng tệ nạn này vẫn chưa giảm đáng kể. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc đối với ông Kim D một thời gian như mức đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T thì mới có tác dụng, giúp cho ông chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm giúp cho ông cai nghiện được ma túy để trở thành một công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, nhằm răn đe, phòng ngừa vi phạm hành vi tương tự tại địa phương, vì hiện nay trên địa bàn huyện T, tệ nạn ma túy ngày một gia tăng về số lượng và có tính chất ngày càng rất phức tạp và đối tượng sử dụng ma túy đa phần là những thanh thiếu niên tuổi đời còn rất trẻ, trong đó có những thanh thiếu niên đang ngồi trên ghế nhà trường đã rơi vào con đường nghiện ngập.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với ông Kim D: Không có.
Căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 95; khoản 1, Điều 96; Điều 103; Điều 104 và khoản 2, Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Căn cứ các Điều 3, Điều 23 và Điều 24 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Kim D.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Trà Vinh, tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú có quyền kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T phối hợp với Công an nhân dân huyện T thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Trà Cú; - Trưởng Phòng LĐ - TB&XH huyện Trà Cú; - Công an nhân dân huyện Trà Cú; - Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy Trà Vinh; - Ủy ban nhân dân xã Kim Sơn; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Thạch Thuône |