vanban.org

Quyết định 32/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 17/09/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Vũ Xuân L.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T), sinh năm 1977, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Tâ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang mất tích kể từ ngày 08/8/2015. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Xuân L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Vũ Xuân L - Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Vũ Xuân L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2019/QĐST-VDSHàm Yên, ngày 17 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đức Tùng.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên họp: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 25/2019/TLST-VDS, ngµy 11 th¸ng 4 n¨m 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS, ngày 26 tháng 8 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Xuân L, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Vũ Thị T, sinh ngày 23/6/1998

Địa chỉ: Thôn 1 M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

2. Cháu Vũ Thị N, sinh ngày 02/11/2001

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị N: Anh Vũ Xuân L, sinh năm 1976, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Anh L, cháu T, cháu N vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và tại bản tự khai, người yêu cầu anh Vũ Xuân L trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T), sinh năm 1977 kết hôn với nhau ngày 20 tháng 3 năm 1997 có đăng ký kết hôn t¹i UBND thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trªn c¬ së hoµn toµn tù nguyÖn. Thêi gian ®Çu vî chång chung sèng h¹nh phóc, ®Õn ngày 08/8/2015 vî chång b¾t ®Çu ph¸t sinh m©u thuÉn, nguyªn nh©n m©u thuÉn lµ do tính cách vợ chồng giữa anh L với chị T không hợp nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị T bỏ nhà đi làm ăn ở đâu anh L không biết. Anh L xác định chị T đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ ngày 08/8/2015 cho đến nay, sau khi chị T bỏ đi anh đã đi tìm kiếm nhưng không biết chị T đi đâu và ở đâu, từ khi chị T bỏ đi anh không có tin tức gì về chị T. Hiện nay anh không biết chị T đang làm gì và ở đâu. Do vậy anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên tuyên bố chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T) mất tích theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Anh L xác định anh và chị T có 02 con chung là cháu Vũ Thị T, sinh ngày 23/6/1998 và cháu Vũ Thị N, sinh ngày 02/11/2001. Hiện nay cháu Vũ Thị T, sinh ngày 23/6/1998 đã đủ 18 tuổi trưởng thành và xây dựng gia đình riêng; Còn cháu Vũ Thị N, sinh ngày 02/11/2001 thì đang sinh sống và ở cùng với anh.

- Về tài sản chung: Anh L xác định anh và chị T không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Anh L xác định anh và chị T không vay nợ ai, không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Vũ Thị T và cháu Vũ Thị N. Cháu T và cháu N đều xác định mẹ cháu là chị Nguyễn Thị T (Nguyễn Hoài T) đã bỏ nhà đi từ ngày 08/8/2015 đến nay không về, các cháu không có tin tức gì của chị T. Ngoài ra cháu T và cháu N không yêu cẩu Tòa án giải quyết bất cứ nội dung gì khác.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Vũ Xuân L và tuyên bố chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T) mất tích kể từ ngày 08/8/2015.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu lệ phí việc dân sự và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên nhận định:

Anh Vũ Xuân L và chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T) kết hôn với nhau ngày 20/3/1997 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh L và chị T chung sống cùng nhau tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung vợ chồng giữa anh L và chị T không hạnh phúc và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ngày 08/8/2015 chị T đã bỏ đi khỏi địa phương, chị T đi đâu anh L không biết và cũng không có tin tức gì của chị T. Từ ngày 08/8/2015 đến nay gia đình và chính quyền địa phương không ai có thông tin, tin tức gì của chị T, mặc dù anh L và gia đình đã đi tìm chị T nhiều lần và áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm, nhưng cũng không có tin tức gì của chị T.

Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương được biết, nơi cư trú cuối cùng của chị T là tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; đồng thời Tòa án cũng xác minh tại gia đình bố đẻ chị Nguyễn Thị T (Nguyễn Hoài T) được biết, chị T đã bỏ nhà đi từ ngày 08/8/2015 đến nay gia đình không có thông tin, tin tức gì của chị T, không biết chị T hiện nay đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Do vậy có căn cứ xác định nơi cư trú cuối cùng của chị T là tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang và chị T đã biệt tích khỏi địa phương từ ngày 08/8/2015 đến nay.

Quá trình thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Vũ Xuân L, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật, cụ thể: Nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam phát vào 17 giờ 50 phút đến 18 giờ các ngày 25 + 26 + 27 tháng 4 năm 2019 và nhắn tin trên báo Công lý tại các số 36, 37, 38 ra các ngày 03, 08, 10 tháng 5 năm 2019, nhưng từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của chị Thương.

Theo quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”. Như vậy xác định thời hạn 02 năm tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng của chị T được xác định là ngày 08/8/2015, đến ngày anh L làm đơn yêu cầu thì chị T đã biệt tích hơn 02 năm, gia đình và chính quyền địa phương không có tin tức gì về chị T; đồng thời đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhắn tin và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không có tin tức gì về chị T. Do vậy anh Vũ Xuân L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T) mất tích là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Anh Vũ Xuân L phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 27; Các Điều 149, 367, 369, 370, 371, 372 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Vũ Xuân L.

- Tuyên bố chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác: Nguyễn Hoài T), sinh năm 1977, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Tâ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang mất tích kể từ ngày 08/8/2015.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Xuân L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002083 ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Anh Vũ Xuân L đã nộp đủ lệ phí.

- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết quyết định này; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ