vanban.org

Quyết định 32/2019/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 23/01/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn M;

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1172/2018/QĐST-DS ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H. Ông Lê Văn M được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0049877 ngày 09/10/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Văn M - Phạm Thị P"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn M;
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/2019/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 01 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Văn Công

Các Thẩm phán:

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Ông Nguyễn Đắc Minh

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1172/2018/QĐST-DS ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố H đã căn cứ các điều 48, 218, 219, điểm g khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1952;

Trú 57/4B ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện H, Thành phố H.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm 1955;

Trú 156/5E ấp Tam Đông 2, xã Thới Tam Thôn, huyện H, Thành phố H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954;

Trú 57/4B ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện H, Thành phố H.

3.2. Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố H.

3.3. Ủy ban nhân dân Thành phố H.

Tại đơn đề ngày 24/9/2018, nguyên đơn ông Lê Văn M kháng cáo với lý do đất của ông đã bị gia đình bà Phạm Thị P lấn chiếm trái phép nên yêu cầu Tòa xét xử.

XÉT THẤY:

Ngày 17/9/2018, Tòa án nhân dân thành phố H mới tống đạt Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1172/2018/QĐST-DS ngày 28/8/2018 cho ông Lê Văn M nên đơn kháng cáo của ông Lê Văn M còn trong thời hạn theo quy định tại Khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đủ điều kiện để giải quyết phúc thẩm.

Diện tích đất tranh chấp 618,5 m2 thuộc một phần thửa đất số 256, tờ bản đồ số 14 xã Thới Tam Thôn.

Theo tài liệu 02/CT-UB năm 1995 thì ông Lê Văn M đứng tên trong sổ mục kê.

Ngày 17/12/1998 Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn Đ 400 m2/699 m2 nhưng đến ngày 21/10/2002 thì Ủy ban nhân dân huyện H đã ban hành Quyết định số 302/QĐ-UB thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn Đ.

Theo tài liệu năm 2005 ghi tên bà Phạm Thị P đăng ký.

Như vậy, việc tranh chấp quyền sử dụng diện tích đất nêu trên giữa ông Lê Văn M với bà Phạm Thị P thuộc trường hợp các đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai (Ông M và bà P đứng tên trong sổ mục kê đều sau ngày 15/10/1993 nên không thuộc trường hợp được coi là có giấy tờ khác về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ). Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.

Ông Lê Văn M đã chọn hình thức nộp đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân giải quyết và sự việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H giải quyết bằng Quyết định số 611/QĐ-UBND ngày 29/01/2016 nhưng ông M không đồng ý và có khiếu nại nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H giải quyết bằng Quyết định số 3149/QĐ-UBND ngày 20/6/2016 đã có hiệu lực pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn M, giữ nguyên quyết định sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

Ông Lê Văn M là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ Luật tố tụng Dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn M;

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1172/2018/QĐST-DS ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố H.

2. Ông Lê Văn M được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0049877 ngày 09/10/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ