- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "LÊ THỊ H - TRẦN THỊ HOÀNG L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H:
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------- Số: 315/2018/QĐST-VDS | B, ngày 13 tháng 11 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trung Tính.
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Dung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 58/2018/TLST-VDS ngày 26 tháng 02 năm 2018 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 531/2018/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị H – sinh năm 1958 (có mặt).
Địa chỉ: 311 ấp 2, xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu ngày 18/9/2017, bản tự khai ngày 13/3/2018, biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 13/3/2018 và tại phiên họp , người yêu cầu - Bà Lê Thị H trình bày như sau:
Bà Lê Thị H và ông Trần Huy H, sinh năm 1957 (chết năm 2016) sống chung với nhau từ năm 1977 nhưng không có con. Vào khoảng năm 1991 ông bà có xin 01 trẻ làm con nuôi và trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, sống chung trong gia đình. Đến năm 1995 thì vợ chồng bà H đã đăng ký khai sinh, nhâ ̣n trẻ làm con ruô ̣t lấy tên là Trần Thi ̣ Hoàng L, sinh ngày 20/05/1989.
Vào khoảng năm 2003 sau khi trẻ L đi học thì gia đình không thấy trở về. Thời điểm đó trẻ L đang học lớp 8 trường THCS Z, huyện B. Vợ chồng bà H đã nhiều lần liên hệ tìm kiếm các nơi vẫn không tìm được trẻ L . Sau vài tháng vợ chồng bà H được Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi ở Gò Vấp thông báo lên nhận trẻ L về do cơ quan Công an chuyển đến vì trẻ L có hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi nhận trẻ L về được 03 ngày thì trẻ Linh đã bỏ đi cho đến nay không nhâ ̣ được tin tứ c gi của trẻ L.
̀
Nay để thực hiê ̣n mô ̣t số thủ tu ̣c hành chinh, bà H yêu cầu tuyên bố Trần Thi ̣
́
Hoàng L mất tích, khi đi trẻ L còn nhỏ, chưa kết hôn và không có tài sản riêng.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự:
Theo đơn của bà Lê Thị Hyêu cầu tuyên bố mất tích đối với con là Trần Thị Hoàng L, do người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân huyện B thụ lý vụ việc là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ việc Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tại phiên họp đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về yêu cầu của bà Lê Thị H, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập có cơ sở xác định Trần Thị Hoàng L là con hợp pháp của ông Trần Huy H và bà Lê Thị H. Do Trần Thị Hoàng L đã bỏ đi biệt tích từ năm 2003 đến nay mà không tin tức gì liên hệ với gia đình, phía bà Hai đã thực hiện đầy đủ các thủ tục thông báo tìm kiếm trên báo đài, các phương tiện thông tin đại chúng theo yêu cầu của Tòa án nhưng vẫn không có kết quả, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H tuyên bố Trần Thị Hoàng L mất tích. Về tài sản của Trần Thị Hoàng L do bà H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị chủ tọa phiên họp ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Xét đơn yêu cầu của bà Lê Thị H, yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Hoàng L mất tích là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015. Bà Linh có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ 311 ấp 2, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè quy định điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ giấy khai sinh số 269, quyển số 02/95 ngày 05/7/1995 tại Ủy ban nhân dân xa T, huyê ̣̃
n B thì trẻ Trần Thị Hoàng L là con của ông Trần Huy H và bà Lê Thị H nên bà Lê Thị H có quyền nô ̣p đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với Trần Thị Hoàng L.
Căn cứ lời khai của bà H, đối chiếu văn bản xác nhận của Công an xã T có cơ sở xác định trẻ L đã biệt tích từ năm 2003. Bà H đã thực hiện thủ tục đăng báo, nhắn tin tìm kiếm trên các phương tiê ̣n thông tin đa ̣i chúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên đến nay không nhâ ̣n được tin tứ c của trẻ L. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Lê Thị H đối với bà Trần Thị Hoàng L là có cơ sở nên Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị H phải nộp 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008634 ngày 26/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bà H đã nộp đủ lệ phí.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, 369, 370, 371, 372, 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị H:
Tuyên bố Trần Thị Hoàng L - Sinh ngày 20/5/1989 mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị H phải nộp 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008634 ngày 26/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, bà H đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Lê Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - Người yêu cầu; - UBND xa T;̃ - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Trung Tính |