vanban.org

Quyết định 314/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 16/05/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H Về con chung: Anh H và chị L xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Đại sinh ngày 15/02/1997 và cháu TĐD 31/10/2003. Các con đã trưởng thành khỏe mạnh, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ"
  • Tòa quyết gì? I. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Số: 314/2022/QĐST-HNGĐ
BĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 212, Điều 213, khoản 4 Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55; 58; 59; 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân gia đình thụ lý số 295/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Chị Bùi Thị L, sinh năm 1976; Hộ khẩu thường trú: Căn hộ số 128, tầng 1, nhà B tập thể trường Đại học luật- tổ 9 phường DVH, quận CG, Hà Nội; Nơi ở: Số 48 ngõ 101 ĐT, phường NK, quận BĐ, thành phố Hà Nội.

Anh Trần Văn H, sinh năm 1972; Hộ khẩu thường trú: Căn hộ số 128, tầng 1, nhà B tập thể trường Đại học luật- tổ 9 phường DVH, quận CG, Hà Nội; Nơi ở: Phòng 119 Cầu thang 5 tập thể K, ngõ 376 đường B, phường VP, quận BĐ, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H tự nguyên tìm hiểu và có đăng ký kết hôn số 58/2010 quyển số 01/2010 ngày 18/8/2010 tại Ủy ban nhân dân phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, đây là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải đoàn tụ không thành ngày 06 tháng 5 năm 2022 về việc các đương sự đã thật sự tự nguyện ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ việc hôn nhân và gia đình.

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành ngày 06 tháng 5 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

I. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Bùi Thị L và anh Trần Văn H

2. Về con chung: Anh H và chị L xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Đại sinh ngày 15/02/1997 và cháu TĐD 31/10/2003. Các con đã trưởng thành khỏe mạnh, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

3. Về tài sản và nhà ở chung: Anh chị xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về công nợ: Anh chị xác nhận vợ chồng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

5.Về lệ phí: Chị Bùi Thị L tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí HNGĐ, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị L đã nộp theo biên lai thu số 0068217 ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận BĐ.

II. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ