- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc D"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Hữu T.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 314/2021/QĐST-HNGĐ | C, ngày 22 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 396/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1984.
Địa chỉ: 359, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1983.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ cư trú: 359, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 12 tháng 11 năm 2021.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 12 tháng 11 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Hữu T.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Hữu T thuận tình ly hôn.
Ghi nhận chị Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.
- Về con chung:
Chị Nguyễn Ngọc D có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 06/10/2009 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 19/8/2014, hiện đang sống chung với chị D, cho đến khi cháu Nguyễn Ngọc Gia H và Nguyễn Gia H đủ 18 tuổi.
Ghi nhận chị Nguyễn Ngọc D không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng cho con.
Anh Nguyễn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền, nghĩa vụ này, tuy nhiên khi người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc D và anh Nguyễn Hữu T mỗi bên phải có nghĩa vụ chịu số tiền 75.000đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tuy nhiên chị D tự nguyện chịu số tiền 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 14.600.000đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu số 0000990, 0000991 cùng ngày 15/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, trả lại cho chị D số tiền 14.750.000đồng (Mười bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự (02b); - Viện kiểm sát nhân dân huyện C (01b); - TAND tỉnh Bến Tre(01b); - UBND xã P, huyện C (01b); - Lưu hồ sơ vụ án(01b). | THẨM PHÁN Đào Chí Cường |