- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 314/2020/HS-ST Ngày: 20 – 11 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Hoa.
Bà Trần Ngọc Phƣơng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Loan, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 321/2020/TLST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 323/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978 tại tỉnh An Giang; nơi cƣ trú: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1948 và bà Lê Thị N, sinh năm 1946; vợ Trần Thị Kim T, sinh năm 1978 và 02 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có mặt.
- Bị hại:
1. Cháu Phạm Minh D, sinh năm 2015 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1984 và bà Kim Thị Minh T, sinh năm 1990; nơi cƣ trú: Phƣờng A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (là bố, mẹ ruột của bị hại) có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bà Kim Thị Minh T, sinh năm 1990; nơi cƣ trú: Phƣờng A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1984; nơi cƣ trú: Phƣờng A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Minh Ch, sinh năm 1977 – Chủ DNTN B; địa chỉ: khóm B, phƣờng B, thành phố L, tỉnh An Giang. Ngƣời đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Minh C: Ông Trần Ngọc P, sinh năm 1979; nơi cƣ trú: P, phƣờng N, thành phố C, tỉnh An Giang, là ngƣời đại diện theo ủy quyền. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Lê Trung H, sinh năm 1977. Vắng mặt.
Ông Phùng Ngọc M, sinh năm 1982. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Thanh T có giấy phép lái xe hạng E số 890049000945 do Sở giao thông vận tải tỉnh An Giang cấp có giá trị đến ngày 31/8/2023. Vào khoảng 18 giờ 28 phút ngày 16/02/2020, Nguyễn Thanh T điều khiển xe ô tô khách loại 46 chỗ biển số 67B – 010.88 lƣu thông trên đƣờng Quốc Lộ 13 hƣớng từ trạm thu phí Lái Thiêu đến Thành phố Hồ Chí Minh, khi đến đoạn trƣớc Công ty Tân Hiệp Phát thuộc khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì xe lƣu thông trên làn đƣờng dành cho xe ô tô dƣới 16 chỗ, với tốc độ 61 km/h, do không chú ý quan sát nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô hai bánh biển số 59V2 – 131.92 do Phạm Hồng H điều khiển chở phía sau là vợ tên Kim Thị Minh T và con trai ruột là cháu Phạm Minh D lƣu thông cùng chiều phía trƣớc đang chuyển hƣớng rẽ trái qua đƣờng ngƣợc lại, trên làn đƣờng dành cho xe ô tô dƣới 16 chỗ. Hậu quả làm cháu Phạm Minh D tử vong sau cấp cứu, bà Kim Thị Minh T bị thƣơng tích.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng và biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn xác định nhƣ sau:
- Hiện trƣờng xảy ra vụ tai nạn giao thông là đƣờng Quốc lộ 13 đoạn thuộc khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Đƣờng trải nhựa phẳng và thẳng rộng 24,7m, đoạn từ trạm thu phí Lái Thiêu về cầu Vĩnh Bình. Đoạn xảy ra tai nạn là trƣớc Công ty TNHH Tân Hiệp Phát, nơi không có dải phân cách cố định, cho xe quay đầu. Đƣờng đƣợc chia thành 02 chiều đƣờng bằng dải phân cách bê tông cố định, mỗi chiều đƣờng rộng 11,7m, đƣợc chia thành 3 làn đƣờng.
- Chiều đƣờng xảy ra tai nạn hƣớng từ Trạm thu phí Lái Thiêu về cầu Vĩnh Bình, khu vực xảy ra tai nạn có lắp đặt đèn chớp vàng, biển báo số 1.409 “Chỗ quay xe”, biển báo số W.207 “Giao nhau với đƣờng không ƣu tiên”, biển báo số W.224 “Đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang và biển báo số W.225 “Trẻ em” theo cả hai hƣớng đi (Thuận An đi thành phố Hồ Chí Minh và ngƣợc lại). Ngoài ra, còn có lắp biển báo phân làn đƣờng cho các phƣơng tiên lƣu thông (cụ thể: làn ngoài cùng sát dải phân cách dành cho xe ô tô con và xe khách dƣới 16 chỗ, làn giữa là dành cho các loại xe ô tô, làn trong cùng sát lề phải dành cho xe mô tô, xe 3 bánh, xe đạp).
- Chiều đƣờng xảy ra tai nạn chia 3 làn đƣờng, từ mép lề chuẩn ra hết làn giữa ( làn ô tô tải) là 7,2m. Từ đầu vết cày xe mô tô cách mép lề chuẩn là 7,4m. Có căn cứ đánh giá điểm xảy ra va chạm giữa xe ô tô khách và xe mô tô của nạn nhân là trên làn đƣờng ngoài cùng (làn ô tô con).
- Đầu vết phanh bên phải xe ô tô khách cách lề chuẩn 7,2m. Có căn cứ đánh giá khi xảy ra va chạm xe ô tô khách lƣu thông trên làn đƣờng xe ô tô con (là làn đƣờng ngoài cùng, sát dải phân cách).
Bản kết luận giám định số 32 ngày 03/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận cơ chế hình thành dấu vết trên các phƣơng tiện là:
- Xe ô tô khách lƣu thông trên đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng thì va chạm với xe mô tô lƣu thông phía trƣớc, từ phải qua trái làm xe mô tô đổ ngã qua phải, va chạm với mặt đƣờng tạo ra dấu vết trên hai phƣơng tiện;
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô khách biển số 67B-01 0.88 và xe mô tô biển số 59V2-131.92 chiếu xuống mặt đƣờng là khu vực phía trƣớc đầu vết cày (kí hiệu số 4 trên sơ đồ hiện trƣờng hƣớng) từ Trạm thu phí Lái Thiêu về cầu Vĩnh Bình.
Bản Kết luận pháp y tử thi số 190/GĐPY ngày 19/02/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Phạm Minh D: Chấn thƣơng sọ não, vỡ lún xƣơng sọ; dập não, xuất huyết nội sọ dẫn đến chết.
Phiếu đo nồng độ cồn của Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố Thuận An vào ngày 16/02/2020 xác định: nồng độ cồn trong hơi thở của Phạm Hồng H và Nguyễn Thanh T là 0.000mg/L.
Ngày 07/4/2020, Sở giao thông vận tải Tỉnh Bình Dƣơng Công văn số 1234/SGTVT-QLGT cung cấp thông tin hiện trạng hệ thống báo hiệu giao thông Quốc lộ 13 đoạn trƣớc Công ty Tân Hiệp Phát, thuộc khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xác định.
+ Tốc độ tối đa cho phép đối với các loại xe ô tô khách 46 chỗ: Quốc lộ 13 đoạn trƣớc Công ty Tân Hiệp Phát là đoạn đƣờng nằm trong khu vực phƣờng Vĩnh Phú, xã Thuận An (thành phố Thuận An từ ngày 01/02/2020 theo Nghị quyết số 857/NQ-UBTVQH14 ngày 10/01/2020 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội); Dọc hai bên tuyến là các công ty, xí nghiệp, nhà dân sản xuất kinh doanh và sinh sống, có các hoạt động ảnh hƣởng đến an toàn giao thông. Hiện trạng, Quốc lộ 13 đoạn trƣớc Công ty Tân Hiệp Phát là đƣờng đôi có 6 làn xe lƣu thông (mỗi chiều có 03 làn xe) và đƣợc phân cách bằng dải phân cách giữa bằng bê tông (có trồng cây giữa dải phân cách); Ngoài ra, trên Quốc lộ 13 (theo hƣớng từ Thủ Dầu Một đi thành phố Hồ Chí Minh) đƣợc lắp đặt biển báo số R.420 Bắt đầu khu đông dân cƣ” tại cống Suối Cát, giao lộ Quốc lộ 13 – đƣờng 22 tháng 12, ngã tƣ cầu Ông Bố; Theo quy định tại Điều 6 Thông tƣ số 31/2014/TT-BGTVT, trên Quốc lộ 13 đoạn trƣớc Công ty Tân Hiệp Phát, tốc độ tối đa cho phép đối với các phƣơng tiện ô tô khách 46 chỗ ngồi khi tham gia giao thông là 60km/h. Đồng thời, xe khách loại 46 chổ không đƣợc chạy trên làn ngoài cùng (làn sát dải phân cách).
+ Về biển báo cho phép các phƣơng tiện chuyển hƣớng trên Quốc lộ 13 đoạn trƣớc Công ty Tân Hiệp Phát: Về hiện trạng hệ thống báo hiệu giao thông: Tại thời điểm khảo sát, hiện trạng Quốc lộ 13 đoạn trƣớc cổng Công ty Tân Hiệp Phát có ngắt dải phân cách giữa chiều rộng khoảng 60m; Trƣớc vị trí ngắt dải phân cách giữa có lắp đặt đèn chớp vàng, biển báo số 1.409 “Chỗ quay xe”, biển báo số W.207 “Giao nhau với đƣờng không ƣu tiên”, biển báo số W.224 “Đƣờng ngƣời đi bộ cắt ngang và biển báo số W.225 “Trẻ em” theo cả hai hƣớng đi (Thuận An đi thành phố Hồ Chí Minh và ngƣợc lại). Đối chiếu quy định tại Khoản 3 Điều 15 của Luật Giao thông đƣờng bộ với hiện trạng biển báo giao thông trên Quốc lộ 13 đoạn trƣớc cổng Công ty Tân Hiệp Phát, các phƣơng tiện giao thông đƣợc phép quay đầu xe khi tuân thủ theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 15 Luật Giao thông đƣờng bộ.
Căn cứ Kết quả trích xuất tốc độ hành trình của xe khách loại 46 chỗ, biển số 67B-010.88 của Công ty Cổ phần điện tử Viễn Thông Ánh Dƣơng, địa chỉ: Khu phố 11, phƣờng Bình Hƣng Hòa A, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, xác định: Thời điểm trƣớc khi xảy ra tai nạn tốc độ cao nhất xe ô tô biển số 67B-010.88 là 61km/h. Thời điểm xe đang lƣu thông không giảm tốc độ, tăng dần từ 54 61km/h, khi xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59V2-131.92, tốc độ xe giảm đột ngột từ 61 xuống 59, 41, 29, 0, 0km/h.
Bản Cáo trạng số 333/CT-VKS -TA ngày 26/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng đến 36 tháng.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Nguyễn Thanh T và chủ phƣơng tiện đã tự nguyện bồi thƣờng cho gia đình bị hại số tiền 125.000.000 đồng. Đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
+ Bị cáo Nguyễn Thanh T và chủ phƣơng tiện đã hỗ trợ cho bà Kim Thị Minh T số tiền 40.000.000 đồng điều trị thƣơng tích. Bà Thúy không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 xe ô tô biển số 67B-010.88 là tài sản của Doanh nghiệp tƣ nhân B nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Ngọc P là ngƣời đại diện theo ủy quyền của Doanh nghiệp tƣ nhân B là phù hợp.
+ Đối với 01 xe mô tô hai bánh biển số 59V2-131.92 là tài sản cá nhân của Phạm Hồng H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H là phù hợp.
- Bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ và bản ảnh hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y, lời khai của ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, ngƣời làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ 28 phút ngày 16/02/2020, Nguyễn Thanh T điều khiển xe ô tô biển số 67B-010.88 lƣu thông trên đƣờng Quốc lộ 13 đoạn thuộc khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An không đúng làn đƣờng, chạy quá tốc độ, thiếu quan sát nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59V2-131.92 do Phạm Hồng H điều khiển chở theo phía sau bà Kim Thị Minh T và cháu Phạm Minh D, đang lƣu thông cùng chiều phía trƣớc chuyển hƣớng qua đƣờng ngƣợc lại đã gây ra tai nạn giao thông dẫn đến cháu Phạm Minh D tử vong. Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 11, khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đƣờng bộ năm 2008 gây tai nạn làm chết 01 ngƣời đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, đƣợc cấp giấy phép lái xe theo quy định, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không nghiêm chỉnh chấp hành, không giảm tốc độ xe, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy phía trƣớc, không đi đúng làn đƣờng, thiếu quan sát gây tai nạn. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, tƣớc đi mạng sống của ngƣời khác, ảnh hƣởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý.
Tuy nhiên, ông Phạm Hồng H là cha của bị hại cũng có phần lỗi là điều khiển phƣơng tiện đi sai làn đƣờng cũng là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn trên do đó cần xử phạt bị cáo với mức án phù hợp với hành vị mà bị cáo thực hiện nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội nhƣng cũng đảo bảo pháp luật đƣợc áp dụng đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại, hỗ trợ chi phí điều trị thƣơng tích cho bà T; phía bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cƣ trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng và gia đình giám sát giáo dục bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo và không ảnh hƣởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nên lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tự cải tạo ở địa phƣơng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
- Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại cháu D vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong hồ sơ thể hiện đã nhận 125.000.000 đồng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà T vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong hồ sơ thể hiện đã nhận 40.000.000 đồng hỗ trợ của bị cáo và bị đơn dân sự, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số tiền phía chủ phƣơng tiện ông Nguyễn Minh C cùng bị cáo bồi thƣờng cho đại diện hợp pháp của bị hại, ông C không có yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các bên có tranh chấp liên quan đến số tiền này thì đƣợc giải quyết bằng vụ án dân sự khác
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:
- 01 xe ô tô biển số 67B-010.88, quá trình điều tra xác định là tài sản của Doanh nghiệp từ nhân B nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện chủ sở hữu theo quy định.
- 01 xe mô tô hai bánh biển số 59V2-131.92, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của Phạm Hồng H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H theo quy định. Ông Phạm Hồng H khai nhận chiếc xe này bị hƣ hỏng nhẹ, tuy nhiên ông H tự sửa chữa và có đơn từ chối định giá tài sản, là ý chí tự nguyện của ông H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với bà Kim Thị Minh T là ngƣời bị thƣơng tích trong vụ tai nạn giao thông trên, quá trình điều tra bà T khai nhận do thƣơng tích nhẹ, không ảnh hƣởng đến sức khỏe nên có đơn không yêu cầu giám định thƣơng tích. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải bà T đi giám định thƣơng tích nhƣng dẫn giải không thành. Bà T không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Đối với Phạm Hồng H điều khiển xe mô tô biển số 59V2-131.92 chở bà T và cháu D lƣu thông trên đƣờng quốc lộ 13, cho xe chuyển hƣớng từ lề phải qua lề trái, thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn cho các phƣơng tiện đang lƣu thông đúng chiều đƣờng, hành vi trên đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008 cũng là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông, làm cháu D tử vong. Do đó, ngày 20 tháng 6 năm 2020 Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong quá trình điều tra vụ án, nhận thấy hành vi của Phạm Hồng H phạm tội nghiêm trọng nhƣng với lỗi vô ý, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, Phạm Hồng H và nạn nhân Phạm Minh D có mối quan hệ là cha con ruột. Vào ngày 14/9/2020, Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 230 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) miễn trách nhiệm hình sự, ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Phạm Hồng H là có căn cứ, đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án 20 tháng 11 năm 2020.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho UBND phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND, Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phốThuận An; - Công an, Chi cục THADS thành phốThuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ TH7ẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |