- Tranh chấp gì? "Trần Thị Trúc M, sinh năm 1981; Giới tính: Nữ."
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 31/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Đức.
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Minh Tấn.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An
Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 33/QĐ-
TA ngày 19 tháng 5 năm 2021 đối với:
Trần Thị Trúc M, sinh năm 1981; Giới tính: Nữ.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không xác định; chỗ ở hiện nay: không
có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: không;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: không biết chữ;
Tiền án: không
Tiền sự:
- Ngày 11/01/2016 Tòa án nhân dân thành phố LX, tỉnh An Giang ban
hành quyết định số 03/QĐ-TA về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh
An Giang. Đến ngày 17/4/2017 chấp hành xong.
- Ngày 20/10/2017 Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang ban hành
quyết định số 76/QĐ-TA về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc. Chấp hành tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An
Giang. Đến ngày 06/3/2019 chấp hành xong.
Nhân thân:
- Ngày 15/12/2008 Chủ tịch UBND thành phố LX, tỉnh An Giang ban
hành quyết định số 1191/QĐ-UBND về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 12 tháng. Chấp hành tại Trung tâm Chữa bệnh - giáo dục - Lao động tỉnh An Giang. Đến ngày 20/11/2009 chấp hành xong.
- Ngày 20/7/2010 Chủ tịch UBND thành phố LX, tỉnh An Giang ban hành
quyết định số 812/QĐ-UBND về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng. Chấp hành tại Trung tâm Chữa bệnh - giáo dục - Lao động tỉnh An Giang. Đến ngày 20/7/2012 chấp hành xong.
Con ông Trần Văn Tổng (chết) và bà Đặng Thị Kiều.
Trần Thị Trúc M có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh N – Cán bộ Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố K; là đại diện theo ủy quyền; có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên họp: Ông
Nguyễn Thành T – Kiểm sát viên; có mặt.
NHẬN THẤY:
Ngày 16/3/2021, Trần Thị Trúc M bị Công an phường NS, thành phố K,
tỉnh An Giang đưa đi xét nghiệm ma túy với kết quả dương tính Methamphetamin và Morphine, đồng thời Công an phường phường NS lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với M.
Cùng ngày 16/3/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường NS ban hành Quyết
định số 279/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Trúc M.
Ngày 16/3/2021, Ủy ban nhân dân phường NS ban hành Thông báo số
46/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Trúc M và ấn định thời gian để M đọc, sao chép tài liệu hồ sơ theo quy định và không có ý kiến nào khác nên Công an phường NS lập biên bản ghi nhận.
Theo Thông báo số 30/TB-PTP ngày 28/4/2021, Phòng Tư pháp thành
phố K đã kết luận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Trần Thị Trúc M bảo đảm về tính pháp lý.
Ngày 07/5/2021, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành văn
bản số 33/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Trúc M với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố
K: Giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Trúc M với thời gian tập
trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.
- Ý kiến của Trần Thị Trúc M: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể
hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án, từ khi thụ lý đến thời điểm này,
Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 8, 9 Pháp lệnh trình tự, thủ
tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân
dân năm 2014.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp đúng quy định
tại Điều 18 Pháp lệnh 19 ngày 20/01/2014.
+ Về điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đối
với Trần Thị Trúc M, sinh năm 1981 trên 18 tuổi, là người nghiện ma túy,
không mang thai, không nuôi con nhỏ và không có nơi cư trú ổn định nên đề
nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện, quy định tại Điều 95,
Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Vì vậy, đề nghị Toà án nhân dân thành phố K chấp nhận đề nghị của
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị
Trúc M.
XÉT THẤY
* Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K
đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
* Về nội dung:
Tại phiên họp, Trần Thị Trúc M thừa nhận vào ngày 16/3/2021, Trần Thị
Trúc M có sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường NS đưa đi xét nghiệm
kết quả dương tính. Đồng thời, Công an phường NS lập biên bản về hành vi sử dụng
trái phép chất ma túy.
Lời khai nhận của Trần Thị Trúc M tại phiên họp phù hợp với các kết quả
xét nghiệm của cơ quan chuyên môn, bản tường trình, biên bản ghi lời khai của
M và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.
Về nơi cư trú của M theo biên bản xác minh ngày 16/3/2021, ngày
26/3/2021 và ngày 27/3/2021 do Công an phường NS, thành phố K, tỉnh An
Giang lập, được biết Trần Thị Trúc M không có đăng ký hộ khẩu thường trú tại
phường Mỹ Phước, thành phố LX, tỉnh An Giang, cũng không đăng ký thường
trú, tạm trú tại khóm Vĩnh Tây 1, phường NS, thành phố K, tỉnh An Giang. Hiện
sống lang thang, không nơi cư trú ổn định
Tại khoản 1 Điều 13 của Nghị Định 56/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm
2016 của Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định: “không có nơi cư trú ổn định là trường hợp không xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm và người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định hoặc trường hợp xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm nhưng người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định”.
Căn cứ phiếu xét nghiệm ngày 16/3/2021 của Trạm y tế phường NS xác
định, M không mang thai.
Đối chiếu với quy đinh pháp luật, thấy rằng Trần Thị Trúc M đã thành niên,
có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định và hiện không mang thai. Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K đề nghị đưa Trần Thị Trúc M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: M có quá trình nhân thân xấu. Đã có 04
lần đưa đi cai nghiện.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 10, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 104,
Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Trần Thị Trúc M, sinh năm 1981; nơi đăng ký thường trú: không xác định; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24(hai mươi bốn)
tháng, kể từ ngày 16/3/2021.
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành
phố K và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Trần Thị Trúc M là 03 ngày làm việc kể từ ngày
Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố K chủ trì
phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố K đưa Trần Thị Trúc M vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ, TB, XH TP. K; - Ủy ban nhân dân phường NS; - Công an nhân dân phường NS; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy - TAG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Đội CSĐTTPMT-CAND TP. K; - Công an nhân dân TP. K; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Văn Đức |