vanban.org

Quyết định 31/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/08/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Văn C và chị Phạm Hải H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Hải H - Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Văn C và chị Phạm Hải H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 31/2021/QĐST-HNGĐHải Dương, ngày 17 tháng 8 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Thanh Tuấn.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Hải Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 152/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021 về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo Quyết định mở phiên họp số 139/2021/QĐMPH-ST ngày 02 tháng 8 năm 2021:

Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình:

- Chị Phạm Hải H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Địa chỉ hiện tại: Cộng hòa Liên bang Đức.

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Chu Thị Minh L, sinh năm 1959. Địa chỉ : Thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự đều vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết, anh C và chị H thống nhất trình bày:

Anh chị là vợ chồng nhưng đã được TAND huyện Bình Giang giải quyết cho ly hôn từ năm 2016. Thời điểm ly hôn, anh chị đã thỏa thuận giao con chung là cháu Nguyễn Phạm Hà L1, sinh ngày 21/5/2011 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Nguyễn Phạm Hà V, sinh ngày 27/10/2009 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian chị H ở nước ngoài thì bà Chu Thị Minh L sẽ thay mặt chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V. Thỏa thuận này đã được TAND huyện Bình Giang công nhận tại quyết định số 06/2016/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2016. Tuy nhiên, đến nay anh C đang gặp khó khăn về điều kiện kinh tế, không đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo cuộc sống tốt nhất về mọi mặt cho con. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con, anh chị làm đơn đề nghị Toà án công nhận sự thỏa thuận giao con chung là cháu Nguyễn Phạm Hà L1, sinh ngày 21/5/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu L1 đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị H tự nguyện chịu cả lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.

Do chị H đang lao động và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) không có mặt tại Việt Nam, nên đã gửi đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thủ tục ủy quyền cho bà Chu Thị Minh L là mẹ đẻ của chị H và đề nghị giải quyết vắng mặt có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giao văn bản tố tụng cho bà Chu Thị Minh L là người nhận ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng thay chị H. Bà L xác định vẫn nhận ủy quyền của chị H giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và vẫn đồng ý tạm thời thay chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phạm Hà L1 trong thời gian chị H ở nước ngoài.

Anh C, chị H, bà L có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ sự thỏa thuận của các bên đương sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị H và anh C về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, giao cháu Nguyễn Phạm Hà L1, sinh ngày 21/5/2011 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng:

Anh C và chị H yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Chị H hiện đang lao động ở CHLB Đức. Anh C cư trú ở tỉnh Hải Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Các văn bản của chị H gửi về đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức là đúng quy định nên được công nhận là hợp pháp.

Tại phiên họp vắng mặt anh C, chị H và bà L. Anh C, chị H và bà L đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên TAND tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 367 BLTTDS.

Về nội dung: Anh C và chị H là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo quyết định số 06/2016/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2016 của TAND huyện Bình Giang. Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Phạm Hà L1, sinh ngày 21/5/2011 và cháu Nguyễn Phạm Hà V, sinh ngày 27/10/2009. Khi ly hôn anh C và chị H thỏa thuận giao con chung là cháu Nguyễn Phạm Hà L1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Nguyễn Phạm Hà V giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Tuy nhiên, hiện nay anh C đang gặp khó khăn về kinh tế, không đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, đảm bảo cuộc sống tốt nhất về mọi mặt cho cháu L1 nên anh C và chị H thống nhất giao cháu L1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu L1 có đơn đề nghị được ở với mẹ là chị H. Xét thấy, anh C không đủ điều kiện đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Chị H đang lao động ở CHLB Đức có ủy quyền cho mẹ ruột là bà Chu Thị Minh L thay mặt chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu L1 trong thời gian chị H ở nước ngoài. Thỏa thuận của anh C và chị H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con nên cần chấp nhận.

Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Về lệ phí: Chị H tự nguyện chịu cả lệ phí hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 29, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm i khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Văn C và chị Phạm Hải H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cho chị Phạm Hải H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Phạm Hà L1, sinh ngày 21/5/2011 đến khi trưởng thành.

Anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con.

Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con.

2. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Hải H về việc chịu cả 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí do bà Chu Thị Minh L nộp thay chị Phạm Hải H tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/2018/0006397 ngày 06/7/2021. Chị H đã nộp đủ.

Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 17/8/2021.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ