- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Hoàng Thị H và Phạm Văn H"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 31/2019/QĐST-HNGĐ | Đồ Sơn, ngày 03 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Căn cứ vào các điều 212, 213, khoản 4 Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 53/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Hoàng Thị H; nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang;
- Anh Phạm Văn H; nơi cư trú: Tổ B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 28-7-2015. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình anh H tại tổ B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một khoảng thời gian ngắn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng vào nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, công việc của cả hai. Gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải, tìm cách khắc phục để anh chị quay về chung sống với nhau nhưng không có kết quả, mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng hơn. Chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang ở; từ đó, anh chị đã sống ly thân, giữa anh chị không còn liên hệ gì về tình cảm và kinh tế. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng. Vì vậy, việc chị H và anh H thuận tình ly hôn được ghi nhận trong Biên bản thỏa thuận về ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn ngày 25 tháng 4 năm 2019 là có căn cứ.
Về con chung: Chị H và anh H có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng Y, sinh ngày 18-5-2016. Chị H và anh H thỏa thuận giao cháu Y cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc thỏa thuận của hai bên là tự nguyện và đảm bảo được quyền lợi chính đáng của cháu, cần được chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị H và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí Tòa án: Chị H và anh H thỏa thuận giao cho anh H nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị H và anh H về lệ phí Tòa án.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, Biên bản thỏa thuận về ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn mà không có đương sự nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn H thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Chị H và anh H có 01 con chung là cháu Phạm Hoàng Y, sinh ngày 18-5-2016. Chị H và anh H thống nhất giao cháu Y cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị H và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các vấn đề khác: Không.
2. Về lệ phí Tòa án: Anh H nhận nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm mà anh đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai số: 0006977 ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; anh H đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND quận Đồ Sơn; - Chi cục THADS quận Đồ Sơn; - UBND phường H; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, HCTP. | THẨM PHÁN Phạm Hữu Trường |