vanban.org

Quyết định 300/2025/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Kiều Thị Kim T về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Tuyên bố ông Phạm Văn H là cha ruột của cháu Phạm Thị Thùy D Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tụcvề hộ tịch cho cháu Phạm Thị Thùy D theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xác nhận cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Kiều Thị Kim T về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 300/2025/QĐST-HNGĐ
Ngày: 03/6/2025
V/v“Yêu cầu xác định cha
cho con”.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên họp: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo hồ sơ thụ lý số 217/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, giải quyết việc dân sự về “Yêu cầu xác định cha cho con”, giữa:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Kiều Thị Kim T, sinh năm 1983; nơi cư trú số nhà G, tổ B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Văn H, sinh năm 1983; nơi cư trú số B, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988; nơi cư trú ấp A, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: 330/11/12 Quốc lộ A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu ngày 14/4/2025, bà Kiều Thị Kim T trình bày:

Bà là mẹ của cháu Phạm Thị Thùy D, sinh ngày 01/02/2023, tại Bệnh viện N, tỉnh Bến Tre được cấp Giấy chứng sinh số 4, quyển số 7 cấp ngày 01/02/2023. Hiện nay, bà đang thực hiện thủ tục khai sinh cho con nhưng khi thực hiện thủ tục để được cấp giấy khai sinh cho cháu Phạm Thị Thùy D phải thực hiện thêm thủ tục xác nhận cha cho con, do bà và ông Phạm Văn H đã có con trước khi đăng ký kết hôn, nên UBND xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre đã yêu cầu bà tiến hành thủ tục xác nhận cha con. Nay, bà T yêu cầu Tòa án xác nhận cháu Phạm Thị Thùy D là con của bà và ông Phạm Văn H. Lý do, mục đích yêu cầu là để cấp giấy khai sinh cho cháu D.

Bà T xác định bé D là con ruột của bà và ông Phạm Văn H. Kết quả yêu cầu giám định ADN của ông H và cháu D ghi rõ ông H là cha ruột của cháu D.

Nay bà làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận ông Phạm Văn H là cha ruột của bé D để làm giấy khai sinh cho con theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, ông T1: không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thực hiện tố tụng: Quá trình giải quyết việc “ Yêu cầu xác nhận cha cho con” và tại phiên họp Tòa án đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T và xác định ông Phạm Văn H là cha của cháu Phạm Thị Thùy D theo quy định pháp luật.

Bà T thuộc trường hợp không được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, diễn biến tại phiên họp và phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: bà T có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự yêu cầu Tòa án xác định ông Phạm Văn H là cha ruột của cháu Phạm Thị Thùy D. Xác định đây là yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 10 điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành mở phiên họp theo quy định.

Về nội dung: giữa bà T và ông H có quan hệ tình cảm với nhau và có 01 con chung tên Phạm Thị Thùy D, cả hai đã đăng ký kết hôn ngày 29/7/2024 tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, bà T đang trực tiếp nuôi bé D. Để làm thủ tục khai sinh cho con chung theo quy định pháp luật, bà T yêu cầu xác định ông Phạm Văn H là cha ruột của bé Phạm Thị Thùy D.

Theo Quyết định số 65/2024/QĐCNTTLH ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh về công nhận thuận tình ly hôn của bà Kiều Thị Kim T với ông Nguyễn Văn T1 không để cập liên quan đến bé Phạm Thị Thùy D nên Toà án sẽ xem xét theo quy định pháp luật.

Chứng cứ hồ sơ thể hiện: Căn cứ Phiếu kết quả xét nghiệm ADN ngày 24/02/2025 của Viện công nghệ A và phân tích di truyền tại TP ., kết luận: Ông Phạm Văn H và cháu Phạm Thị Thùy D có quan hệ huyết thống cha con.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Dân sự; Điều 88, 89, 90, 91 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Kiều Thị Kim T về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Tuyên bố ông Phạm Văn H là cha ruột của cháu Phạm Thị Thùy D

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tụcvề hộ tịch cho cháu Phạm Thị Thùy D theo quy định của pháp luật.

2. Về lệ phí: bà Kiều Thị Kim T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí.

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn (10) mười ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người nào vắng mặt tại phiên họp thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ