- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Bắc - Đoàn Hồng Thọ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị B đối với anh Đoàn Hồng Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 300/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-12-2020 V/v: “Ly hôn giữa chị B và anh Th”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Quỹ
2. Ông Lương Hùng Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lưu Quốc Phú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 về“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Th, thị trấn C, huyện C, TP.Cần Thơ.
2. Bị đơn: Anh Đoàn Hồng Th, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Th, thị trấn C, huyện C, TP.Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị B trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2003 được sự đồng ý của cha, mẹ gia đình hai bên nên chị và anh Đoàn Hồng Th đã cưới nhau, đến ngày 24/8/2012 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cờ Đỏ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng tại ấp Th, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ và sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng đã có gắng hàn gắn nhưng không thành. Đến cuối năm 2019 đầu năm 2020 do mâu thuẫn quá trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay, hai bên đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân như thế không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Th.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Đoàn Tiến Tr (nam), sinh ngày 18/4/2005; Đoàn Tiến N (nam), sinh ngày 03/12/2012. Hai con chung hiện do anh Đoàn Hồng Th nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao cho anh Th tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đoàn Hồng Th không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị B.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng.
Về nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đỗ Thị B và anh Đoàn Hồng Th có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận. Trong thời kỳ hôn nhân, do chị B và anh Th không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên phát sinh mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn xảy ra, hai bên đã cố hàn gắn nhưng không thành. Từ đầu năm 2020 chị B và anh Thọ đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị B khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Th, còn anh Th mặc dù được Tòa án triệu tập đến làm việc, hòa giải về yêu cầu ly hôn của chị B nhưng anh Th đã không đến. Điều này, thể hiện anh Th cũng không còn thiết tha gì đến hôn nhân giữa anh và chị B. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B.
- Về con chung: Giữa chị Đỗ Thị B và anh Đoàn Hồng Th có hai con chung tên Đoàn Tiến Tr, Đoàn Tiến N, chị B đồng ý giao cho anh Th nuôi dưỡng. Xét hai cháu Tiến Tr, Tiến N hiện do anh Thọ nuôi dưỡng và anh Th có đủ điều kiện để nuôi dạy hai cháu. Cho nên, đề nghị Hội đồng xét xử giao hai cháu Tiến Tr, Tiến N cho anh Th nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Do không ghi được ý kiến của anh Th về việc có hay không việc yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con và chị B cũng không tự nguyện cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị B khai không có nên không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về nghĩa vụ chung: Chị Đỗ Thị B khai không có nên không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết: Chị Đỗ Thị B khởi kiện anh Đoàn Hồng Th có địa chỉ tại ấp Th, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ với yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung sau khi ly hôn nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Khi tiến hành xét xử, anh Đoàn Hồng Th được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Th theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị B và anh Đoàn Hồng Th cưới nhau vào năm 2003, đến năm 2012 đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị có giá trị pháp lý. Trong thời kỳ hôn nhân, chị B khai, chị và anh Th sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng đã có gắng hàn gắn nhưng không thành. Đến cuối năm 2019 đầu năm 2020 do mâu thuẫn quá trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay, hai bên đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân như thế không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Th. Còn anh Đoàn Hồng Th, mặc dù đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để giải quyết, nhưng anh vẫn không đến và cũng không có bất cứ văn bản nào gửi cho Tòa án để nêu ý kiến của mình. Như vậy, anh Th đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hôn nhân muốn đem lại hạnh phúc lâu dài cho cả hai vợ chồng và các con sau này thì vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Tuy nhiên cuộc sống hôn nhân giữa chị B và anh Th có quá nhiều mâu thuẫn, bất hòa không thể hàn gắn, từ khi ly thân cho đến nay, hai bên đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và tình cảm vợ chồng cũng không còn. Điều này cho thấy, đời sống chung giữa chị B và anh Th không thể kéo dài, mục đích hôn nhân đã không đạt được. Ngoài ra, anh Th cũng không đến Tòa án để thể hiện ý kiến được hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về con chung: Chị Đỗ Thị B đồng ý giao hai con chung tên Đoàn Tiến Tr, Đoàn Tiến N cho anh Đoàn Hồng Th nuôi dưỡng. Xét thấy, qua xác minh hai cháu Tiến Tr, Tiến N hiện do anh Th nuôi dưỡng và anh Th có đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Tiến Tr, Tiến N. Cho nên, Hội đồng xét xử giao hai cháu Tiến Tr, Tiến N cho anh Th nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa ghi nhận được ý kiến của anh Đoàn Hồng Th về việc có yêu cầu chị Đỗ Thị B cấp dưỡng nuôi con hay không và chị B cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đỗ Thị B phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị B đối với anh Đoàn Hồng Th.
1.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị B và anh Đoàn Hồng Th.
1.2. Về con chung: Giao hai con chung tên Đoàn Tiến Tr (nam), sinh ngày 18/4/2005; Đoàn Tiến N (nam), sinh ngày 03/12/2012 cho Đoàn Hồng Th nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị Đỗ Thị B, không ai được phép cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
1.4. Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
1.5. Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đỗ Thị B phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị B đã nộp theo biên lai số 013320 ngày 08 tháng 10 năm 2020 thành án phí.
3. Tuyên án công khai. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - UBND thị trấn Cờ Đỏ, huyện Cờ Đỏ; - Phòng Tư pháp huyện Cờ Đỏ; - TAND TP.Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Sang |