- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Minh Đ: Tuyên bố chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 30/2020/QĐST-DS. | Xuân Trường, ngày 23 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Ngọc Quỳnh.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm, công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 18/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết quyết việc dân sự số: 18/2019/QĐST-DS, ngày 17 tháng 9 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Minh Đ, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Phạm Minh Đ và chị Nguyễn Thị N tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16 tháng 01 năm 1990. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung. Nhưng đến năm 2004 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình, lối sống của chị Nhẫn có nhiều thay đổi. Hai bên gia đình cũng đã tìm giải pháp để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Đến năm 2006 thì chị N tự bỏ nhà đi, không ai biết đi N đi đâu, làm gì. Anh Đ đã tìm kiếm chị N nhiều năm nhưng không có kết quả. Nay, anh Đ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích.
Sau khi thụ lý việc dân sự trên, Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị N, đã nhắn tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị N trên Báo Công lý trên 03 số báo liên tiếp 40, 41, 42 ra các ngày 15, 20 và 22 tháng 5 năm 2020, đồng thời nhắn tìm chị Nguyễn Thị N trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng các ngày 14, 15 và 16 tháng 5 năm 2020. Đến nay, đã hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng việc tìm kiếm chị Nguyễn Thị N không có kết quả, không có tin tức gì về chị N.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường có quan điểm: Về tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Điều 370; Điều 371, Điều 372, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Minh Đ, tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường nhận định:
Về tố tụng: Anh Phạm Minh Đ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích, chị N đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã X, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đây là quan hệ dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu anh Phạm Minh Đ: Hôn nhân giữa anh Phạm Minh Đ và chị Nguyễn Thị N là hợp pháp. Căn cứ vào lời trình bày của anh Đ và xác nhận của cơ sở xóm, chính quyền địa phương, thì chị Nguyễn Thị N đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 2006 đến nay không về. Anh Đ cũng như bố mẹ đẻ của chị N đã tìm kiếm nhiều năm nay nhưng không có kết quả, không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị N. Tính từ năm 2006 đến nay, chị Nguyễn Thị N đã biệt tích trên 02 năm liền; Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường cũng đã ra Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị N theo quy định của pháp luật; đến nay đã hết thời hạn kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng việc tìm kiếm chị Nguyễn Thị N vẫn không có kết quả, không có tin tức gì về chị Nguyễn Thị N. Vì vậy, anh Phạm Minh Đ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Minh Đ là người yêu cầu nên phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 370; Điều 371, Điều 372, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Minh Đ: Tuyên bố chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Minh Đ phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh Đ đã nộp theo biên lai thu số 0001737, ngày 11/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Anh Phạm Minh Đ đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Phạm Minh Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ quyết định và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND T. Nam Định; - VKSND T.Nam Định + H. Xuân Trường; - Chi cục THADS H. Xuân Trường; - UBND xã X; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ việc dân sự; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Phạm Ngọc Quỳnh |