- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Ông T và bà Q yêu cầu ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU ___________________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 30/2019/QĐST-HNGĐ | Phú Mỹ, ngày 15 tháng 03 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Căn cứ các Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 39/TLST-VHNGĐ ngày 23/01/2019, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1972
2. Bà Võ Thị Minh Q, sinh năm 1968
Cùng địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được UBND phường 3, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 186/2004, quyển số 01 ngày 31/12/2004 nên hôn nhân giữa ông T và bà Q là hợp pháp.
Thời gian đầu, ông T và bà Q sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, từ đầu năm 2017 hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn thường xuyên cải vã do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Nay, ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q không còn tình cảm với nhau nữa.
Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên Tòa án chấp nhận cho ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q thuận tình ly hôn.
Về con chung: Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q xác nhận có 01 người con chung là cháu Phạm Hùng M, sinh năm 2004 theo giấy khai sinh do UBND thị trấn Phú Mỹ cấp ngày 07/1/2005. Ông T và bà Q thỏa thuận giao cháu Phạm Hùng M cho ông Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông T không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà Võ Thị Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về lệ phí: Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0010554 ngày 22/1/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, ông T và bà Q đã nộp xong lệ phí.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q thuận tình ly hôn (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 186/2004, quyền số 01 do UBND phường 3, thành phố Vũng Tàu cấp ngày 31/12/2004 không còn giá trị sử dụng kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực).
- Về con chung: Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q có 01 người con chung là cháu Phạm Hùng M, sinh năm 2004. Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q thỏa thuận giao cháu Phạm Hùng M cho ông Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông T không yêu cầu bà Võ Thị Minh Q cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà Võ Thị Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về lệ phí: Ông Phạm Văn T và bà Võ Thị Minh Q phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0010554 ngày 22/1/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, ông T và bà Q đã nộp xong lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TX Phú Mỹ; - UBND phường 3, TP Vũng Tàu; - Chi cục THADS TX Phú Mỹ; - TAND tỉnh BR-VT; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Đã ký Phạm Xuân Hưng |