- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "quyết định công nhận sự thỏa thuận"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trần Trung H và bà Bùi Thị Thúy V.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 295/2022/QĐST-HNGĐ | Quận 4, ngày 13 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 343/2020/TLST-HNGĐ ngày 19/8/2020 về tranh chấp “Ly hôn” giữa:
Nguyên đơn: Ông Trần Trung H, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Số 344/3 Kp. M, thị trấn F, huyện J, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Bà Bùi Thị Thúy V, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số 84 X, Phường YY, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 212, 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 05/7/2022.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 05/7/2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trần Trung H và bà Bùi Thị Thúy V.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Trung H và bà Bùi Thị Thúy V thuận tình ly hôn. (Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2016 đăng ký tại UBND phường C Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14/9/2016).
Về con chung: Ông Trần Trung H và bà Bùi Thị Thúy V xác nhận có 01 (một) con chung là trẻ Trần Thế T (nam), sinh ngày 29/9/2016.
Hai bên thỏa thuận: Ông Trần Trung H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Trần Thế T (nam); ông H không yêu cầu bà Bùi Thị Thúy V cấp dưỡng nuôi con.
Bà Bùi Thị Thúy V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở, nhưng bà V không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con; hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Trung H và bà Bùi Thị Thúy V xác nhận không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông Trần Trung H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0035812 ngày 13/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả lại cho ông Trần Trung H 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí đã nộp.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND Quận 4; - Chi cục THADS Quận 4; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký hộ tịch; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, vp. | (01) (02) (01) (01) (02) (03) Nguyễn Thị Mỹ Duyên |