vanban.org

Quyết định 291/2025/QĐ-PQTT — Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/09/2025 Kinh doanh thương mại Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 234/24HCM ngày 11/4/2025 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam về việc giải quyết vụ tranh chấp giữa:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T; địa chỉ: Lô A3, số 11, đường C, Khu công nghiệp C, Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn: Công ty TNHH PT; địa chỉ: 12A đường A, Phường A, TP.A1, Tỉnh Bình Thuận. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH PT-Công ty Cổ phần T"
  • Tòa quyết gì? Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 234/24HCM ngày 11/4/2025 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam về việc giải quyết vụ tranh chấp giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 69 Luật Trọng tài thương mại; Điều 7 Luật Trọng tài thương mại; Điều 71 Luật Trọng tài thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 291/2025/QĐ-PQTTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:

Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Thanh Nhàn

Các Thẩm phán:

Bà Lưu Thị Đoan Trang

Bà Phùng Thị Như Mai

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Trần Hồng Long - Kiểm sát viên.

Tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 174/KDTMST ngày 17 tháng 7 năm 2025 về việc: “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài” theo Quyết định mở phiên họp số 4304/2025/QĐ-MPH ngày 04/8/2025 và Quyết định hoãn phiên họp số 14028/2025/QĐ-HPH ngày 22/8/2025.

Căn cứ vào Điều 71 của Luật Trọng tài thương mại;

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu gồm: Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 234/24HCM ngày 11/04/2025 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (gọi tắt là phán quyết trọng tài VIAC), Hợp đồng thiết kế, thi công xây dựng nội thất, cung cấp và lắp đặt thiết bị số ANT.PRO_002_TCNOITHAT_TTT ngày 05/7/2022 (Hợp đồng)

Sau khi xem xét Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài ngày 07/5/2025 của Công ty TNHH PT đối với phán quyết trọng tài VIAC, giữa:

- Người yêu cầu: Công ty TNHH PT; địa chỉ: 12A đường A, Phường A, Tỉnh Lâm Đồng;

Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Ngọc Sơn; địa chỉ: 65 đường B, Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 03/2025-UQ.DD-NVH ngày 28/4/2025) – Có mặt.

(Là bị đơn trong phán quyết)

- Người liên quan: Công ty Cổ phần T; địa chỉ: Lô A3, số 11, đường C, Khu công nghiệp C, Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Phương T, ông Nguyễn An N, ông Nguyễn Văn L; địa chỉ: 36 đường D, Phường D, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 14/8/2025) – Có mặt.

(Là nguyên đơn trong phán quyết).

Nội dung tranh chấp và yêu cầu:

Nguyên đơn - Công ty Cổ phần T và Bị đơn - Công ty TNHH PT đã giao kết và thực hiện với nhau Hợp đồng thiết kế, thi công xây dựng nội thất, cung cấp và lắp đặt thiết bị số ANT.PRO_002_TCNOITHAT_TTT ngày 05/7/2022 (Hợp đồng) thực hiện cải tạo, thiết kế và lắp đặt nội thất tại dự án A với tổng giá trị hợp đồng là 58.124.154.931 đồng. Ngày 27/5/2022, nguyên đơn đã được bị đơn thanh toán số tiền tạm ứng là 21.527.464.789 đồng.

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày đã hoàn thành công việc đúng và đầy đủ các hạng mục, cũng như các công việc phát sinh và bàn giao toàn bộ các hạng mục cho bị đơn, nhưng chưa được bị đơn thanh toán đầy đủ. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán:

- Trả tiền nợ gốc là 7.529.141.094 đồng và tiền lãi chậm trả là 602.331.288 đồng;

- Thanh toán chi phí Luật sư cho vụ tranh chấp là 180.000.000 đồng.

Nội dung phán quyết trọng tài VIAC:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyên đơn – Công ty Cổ T, buộc Bị đơn – Công ty TNHH PT thanh toán cho Nguyên đơn các khoản tiền sau:

- Khoản nợ gốc: 5.789.472.045 đồng;

- Tiền lãi trên số tiền mà Bị đơn chậm thanh toán cho Nguyên đơn tính đến 15 tháng 08 năm 2024 là 463.157.764 đồng;

- Chi phí luật sư: 138.600.000 đồng;

2. Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn tiền phí trọng tài là 265.215.605 đồng.

3. Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nêu tại Mục IV.1 và IV.2 của Phán quyết trọng tài này cho Nguyên đơn trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày lập Phán quyết Trọng tài này. Trong trường hợp chậm trả, Bị đơn phải trả thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS với mức lãi suất là 10%/năm.

Nội dung yêu cầu và căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài:

Tại đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và tại phiên họp người đại diện của Công ty TNHH PT yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài VIAC vì những lý do như sau:

- Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài Thương mại. Cụ thể :

Vi phạm nguyên tắc “Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”. Trong hợp đồng có quy định mọi tranh chấp trước tiên giải quyết thông qua thương lượng đàm phán, nếu không thống nhất thì mới được khởi kiện ra trọng tài để giải quyết. Tuy nhiên, cho đến thời điểm nhận được Đơn khởi kiện cũng như Thông báo về vụ tranh chấp của VIAC, Công ty Nova Phan Thiết nhận thấy Các Bên chưa thực hiện việc thương lượng để giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh.

Vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết trong lĩnh vực thương mại quy định tại Điều 11 Luật Thương mại và Điều 3 của Bộ luật Dân sự:

+ Vì trong hợp đồng có quy định điều kiện để được thanh toán nhưng Công ty TTT chưa chứng minh đủ điều kiện để được thanh toán.

+ Về tiền lãi chậm thanh toán: Do không có cơ sở để xác định Công ty PT chậm thanh toán các khoản tiền mà Công ty T đã nêu tại đơn khởi kiện nhưng Hội đồng trọng tài vẫn tuyên buộc Công ty PT có nghĩa vụ thanh toán công nợ gốc, lãi cho Công ty T.

+ Về chí phí Luật sư không đáp ứng điều kiện được bồi thường: Các bên không có thỏa thuận thanh toán chi phí luật sư. Đồng thời, nguyên đơn không cung cấp đầy đủ căn cứ để chứng minh chi phí thuê luật sư như hóa đơn VAT, ủy nhiệm chi thanh toán phí dịch vụ pháp lý.

- Thủ tục tố tụng trọng tài trái với các quy định của Luật Tố tụng Trọng tài theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài Thương mại. Cụ thể:

+ Hội đồng Trọng tài đã không thực hiện các biện pháp tố tụng cần thiết để xác minh tính khách quan và hợp pháp của các tài liệu chứng cứ do Công ty T cung cấp, không yêu cầu Công ty T cung cấp bản sao y chứng thực hoặc bản gốc của các tài liệu chứng cứ.

+ Công ty PT đã không nhận được Thông báo, đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu có liên quan kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài và Luật Trọng tài Thương mại.

+ Công ty PT đã không nhận được Phán quyết Trọng tài kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài và Luật Trọng tài Thương mại: Phán Quyết Trọng Tài được Hội đồng Trọng tài ban hành vào ngày 11/4/2025. Tuy nhiên, đến ngày 16/4/2025, Công ty PT mới nhận được từ VIAC Phán quyết Trọng tài.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét đơn, các tài liệu kèm theo và nghe ý kiến của những người được triệu tập, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp:

Căn cứ khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại thì đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Công ty PT trong thời hạn luật định.

Căn cứ khoản 2 Điều 31; điểm a khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 414 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại thì yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Công ty PT là bị đơn trong phán quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam:

Lý do vi phạm nguyên tắc “Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”

Công ty PT cho rằng Công ty T chưa có quyền khởi kiện do chưa thực hiện việc thương lượng hòa giải với Công ty PT là không phù hợp với quy định về quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức khi có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo quy định của Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 5 của Luật Trọng tài thương mại. Ngoài ra, Công ty PT không chứng minh được trong quá trình tố tụng tại trọng tài thì các bên đã có thỏa thuận với nhau nhưng không được trọng tài tôn trọng, chấp nhận. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do này không có cơ sở.

Lý do vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết trong lĩnh vực thương mại quy định:

Công ty PT cho rằng trọng tài chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nợ gốc và tiền lãi trong khi tài liệu chứng cứ để chứng minh của nguyên nộp đã nộp là chưa phù hợp với các quy định trong hợp đồng về điều kiện thanh toán, thời hạn thanh toán, .v.v.

Xét thấy, khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại quy định: “4. Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết.”. Nội dung mà Công ty PT trình bày thuộc về nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã xem xét giải quyết vì vậy Hội đồng xét đơn không xét lại. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do này không có cơ sở.

Lý do chi phí Luật sư không đáp ứng điều kiện được bồi thường:

Xét thấy, khoản 2 Điều 36 Quy tắc tố tụng Trọng tài VIAC quy định: “2. Hội đồng Trọng tài có quyền quyết định một bên phải trả toàn bộ hoặc một phần chi phí pháp lý hoặc chi phí hợp lý khác của bên kia”. Trong quá trình tố tụng, Công ty PT không nêu ý kiến phản đối về yêu cầu này của nguyên đơn để Hội đồng trọng tài xem xét, vì vậy Hội đồng trọng tài căn cứ yêu cầu và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để quyết định về nghĩa vụ thanh toán phí Luật sư là phù hợp với Quy tắc tố tụng Trọng tài VIAC. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do này không có cơ sở.

Xét yêu cầu hủy phát quyết trọng tài với lý do thủ tục tố tụng trọng tài trái với các quy định của tố tụng trọng tài.

Về lý do Công ty PT đã không nhận được Thông báo, đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu có liên quan kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài và Luật Trọng tài Thương mại:

Xét thấy: tại đoạn 2 của phán quyết đã nêu: “Ngày 08 tháng 10 năm 2024, căn cứ Điều 8 Quy tắc VIAC, VIAC gửi tới Bị đơn Thông báo số 2979/VIAC về Vụ tranh chấp kèm theo Quy tắc VIAC, Đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu khác có liên quan của Nguyên đơn. Tại Thông báo, VIAC đề nghị Bị đơn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày nhận được Thông báo (i) gửi 05 bộ tài liệu gồm Bản tự bảo vệ và các tài liệu kèm theo; và (ii) chọn hoặc yêu cầu VIAC chỉ định một Trọng tài viên và thông báo cho VIAC; Theo thông báo từ đơn vị chuyển phát E, các tài liệu nêu trên đã được chuyển phát thành công tới Bị đơn vào ngày 10 tháng 10 năm 2024 ”. Nội dung được ghi nhận trong phán quyết là phù hợp với tài liệu mà VIAC đã cung cấp cho Tòa án là thông tin báo phát chuyển phát nhanh của Công ty E ngày 10/10/2024 cho người nhận là Công ty TNHH PT tại số 12A đường A, Phường A, Thành phố A1, tỉnh Bình Thuận. Như vậy VIAC đã thực hiện việc gửi đơn khởi kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu có liên quan cho Công ty PT đúng theo quy định của Điều 3 và Điều 8 Quy tắc tố tụng Trọng tài VIAC, nên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do này không có cơ sở.

Về lý do Hội đồng Trọng tài đã không thực hiện các biện pháp tố tụng cần thiết để xác minh tính khách quan và hợp pháp của các tài liệu chứng cứ do Công ty T cung cấp, không yêu cầu Công ty T cung cấp bản sao y chứng thực hoặc bản gốc của các tài liệu chứng cứ.

Xét thấy: Nội dung phán quyết trọng tài VIAC thể hiện quá trình tố tụng tại trọng tài, Công ty PT không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp tại trọng tài, tại phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài thì Công ty PT cũng vắng mặt mà không có lý do chính đáng dù đã được thông báo hợp lệ, vì vậy việc trọng tài đã căn cứ vào lời trình bày và các chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để giải quyết vụ tranh chấp là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 Quy tắc tố tụng Trọng tài VIAC, nên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do này không có cơ sở.

Về lý do Công ty PT đã không nhận được Phán quyết Trọng tài kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài và Luật Trọng tài Thương mại.

Xét thấy: Quy tắc tố tụng Trọng tài VIAC và Luật Trọng tài thương mại không có quy định cụ thể thời hạn gửi phán quyết trọng tài cho các bên đương sự. Mặt khác, tại Điều 69 Luật trọng tài Thương mại quy định quyền yêu cầu hủy phán quyết trong tài như sau: “1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, (…) thì có quyền làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (…)”. Như vậy, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của Công ty PT không bị ảnh hưởng bởi thời điểm nhận phán quyết trọng tài, nên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do này không không có cơ sở.

Những lý do mà Công ty PT nêu ra để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài VIAC là không có cơ sở, nên không được chấp nhận. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty PT là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 234/24HCM ngày 11/4/2025 của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam về việc giải quyết vụ tranh chấp giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T; địa chỉ: Lô A3, số 11, đường C, Khu công nghiệp C, Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Bị đơn: Công ty TNHH PT; địa chỉ: 12A đường A, Phường A, TP.A1, Tỉnh Bình Thuận.

2. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, các bên, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị./.

Cỡ chữ