vanban.org

Quyết định 29/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vàng Thị S có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vàng Thị S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 29/QĐ-TANậm Pồ, ngày 05 tháng 03 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Sao

2. Thư ký phiên họp: Bà Vi Tố Uyên

Ngày 05 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 29/2024/QĐ-TA, ngày 27 tháng 02 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Vàng Thị S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

Sinh ngày 01/01/1997; Nghề nghiệp: Làm nương;

Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không;

Nơi cư trú: Bản D, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên;

Số CCCD: 01119700xxxx; Ngày cấp: 17/12/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Con ông Vàng Giả Ch và bà Sình Thị V.

Người bị đề nghị Vàng Thị S có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ: Ông Lầu A Gấu - Phó Trưởng phòng, có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên, có mặt.

NHẬN THẤY:

Vàng Thị S nghiện ma túy từ năm 2017. Ngày 25/12/2023, Vàng Thị S có đơn đề nghị Trạm Y tế xã C xác định tình trạng nghiện ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, ngày 26/12/2023 của Trạm Y tế xã C đã xác định Vàng Thị S là người nghiện chất ma túy, loại ma túy Sa sử dụng là Heroine. Ngày 26/12/2023, Công an xã C đã ra Thông báo số 01/TB-CAX về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện đối với Vàng Thị S. Tuy nhiên, hết thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Vàng Thị S nhận được thông báo nhưng S không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 04/01/2024, Ủy ban nhân dân xã C đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện số 01/BB-VPHC và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Nậm Pồ có ý kiến: Vàng Thị S là người nghiện ma túy nhưng S không tự nguyện đăng ký cai nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của S và trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S, để S cai nghiện, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Vàng Thị S đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Luật Phòng, chống ma túy và Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Vàng Thị S với thời hạn với thời hạn là từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp người bị đề nghị Vàng Thị S có ý kiến: Vàng Thị S là người nghiện ma túy, S nhất trí đi cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy:

[1] Về thẩm quyền: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ là cơ quan đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Vàng Thị S. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án dân dân, Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ thụ lý, xem xét, quyết định là đúng thẩm quyền.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC, ngày 04/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã Vàng Đán đối với Vàng Thị S về cai nghiện ma túy tự nguyện, ngày 25/02/2024 Tòa án thụ lý hồ sơ nên vẫn còn thời hiệu áp dụng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Về nội dung xem xét: Vàng Thị S có nơi cư trú ổn định tại bản D, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên và là người nghiện ma túy từ năm 2017. Vàng Thị S đã được Công an xã C thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng hết thời hạn thông báo, S không đăng ký. Căn cứ khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy, Vàng Thị S là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Về thành phần hồ sơ đề nghị gồm: Biên bản vi phạm việc cai nghiện ma túy tự nguyện; bản tóm tắt lý lịch của Vàng Thị S; 01 Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã C; 01 bản tường trình của Vàng Thị S; Văn bản thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị; Văn bản đề nghị của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã C; Văn bản đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ. Căn cứ vào Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì hồ sơ đề nghị đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định.

Xét thấy, Vàng Thị S là người đã thành niên, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn nghiện ma túy và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên phải chịu trách nhiệm về hành vi sai phạm. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S một thời hạn nhất định, để S cai nghiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Vàng Thị S không có tiền án, tiền sự. Quá trình làm việc Vàng Thị S đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính và S không có tình tiết tăng nặng.

Đối với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, ý kiến của Vàng Thị S là phù hợp, Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ chấp nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 23, khoản 1 Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì hồ sơ đề nghị đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Vàng Thị S có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Pồ phối hợp với Công an huyện Nậm Pồ đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, địa chỉ: C1, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

Cỡ chữ