vanban.org

Quyết định 29/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Phạm Thị Thanh H; địa chỉ: Số 6, ngõ 2 M, phường M, quận H, thành phố H và anh Phạm Văn Th; địa chỉ: Tổ 4 Đ, phường V, quận K, thành phố H;

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Phạm Văn T thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Phạm Thị Thanh H; địa chỉ: Số 6, ngõ 2 M, phường M, quận H, thành phố H và anh Phạm Văn Th; địa chỉ: Tổ 4 Đ, phường V, quận K, thành phố H;
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. H
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K
Số: 29/2021/QĐHG-HNGĐ
K, ngày 11 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H

Thẩm phán ra quyết định: Bà Nguyễn Thị Lan Hương – Thẩm phán Tòa án nhân dân quận K, thành phố H.

Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các điều 32, 33, 34, 35, 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 26 tháng 5 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa:

- Người khởi kiện: Chị Phạm Thị Thanh H; sinh năm: 1976; địa chỉ: Số 6, ngõ 2 M, phường M, quận H, thành phố H;

- Người bị kiện: Anh Phạm Văn T; sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 4 Đẩu Vũ, phường Văn Đ, quận K, thành phố H;

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Phạm Thị Thanh H; địa chỉ: Số 6, ngõ 2 M, phường M, quận H, thành phố H và anh Phạm Văn Th; địa chỉ: Tổ 4 Đ, phường V, quận K, thành phố H;

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Phạm Văn T thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Phạm Văn Th có 02 con chung là Phạm Văn C, sinh ngày 26/01/2001 và Phạm Thị Bích L, sinh ngày 07/8/2008. Giao cho chị Phạm Thị Thanh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Thị Bích L đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Đối với con chung là Phạm Văn C đã trên 18 tuổi, Tòa án không xem xét giải quyết về việc nuôi dưỡng đối với Phạm Văn C.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng khi ly hôn: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Phạm Văn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ