- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị A - Vũ Kim D"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 29/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 01 năm 2019 |
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Bá Thịnh
Các thẩm phán:
Bà Phạm Thị Thảo
Bà Huỳnh Tuyết Mai
- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Long Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn
Thị Yến Oanh – Kiểm sát viên tham gia phiên họp.
Tại Quyết định đình chỉ số 122/2018/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2018
của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều
192, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1943.
Địa chỉ: S26 Khu dân cư N, đường D, Khu phố 6, phường P, Quận C, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Kim S - Sinh năm 1963.
Bị đơn: Ông Vũ Kim D - Sinh năm 1954.
Địa chỉ: C4C cư xá L, Khu phố 6, phường T, quận D, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Trần Liễu E - Sinh năm 1960.
Địa chỉ: C4C cư xá L, Khu phố 6, phường T, quận D, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2/ Ủy ban nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 168 Đường B, phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Bà Phạm Thị G, sinh năm 1960
Địa chỉ: số 18B/17A Đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Tại “Đơn kháng cáo” đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số
122/2018/QĐST-DS ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A đề ngày 30/10/2018 - với lý do đối tượng bà A khởi kiện là ông Vũ Kim D khác với đối tượng bà khởi kiện trước đây là bà Phạm Thị G; do đó bà yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 122/2018/QĐST-DS ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận X và yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị A với bị đơn là ông Vũ Kim D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
họp phát biểu quan điểm:
- Về thời hạn kháng cáo: 28/9/2018, Tòa án nhân dân Quận X ban hành
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 122/2018/QĐST-DS; Ngày 23/10/2018, Tòa án nhân dân Quận X đã tiến hành thủ tục tống đạt Quyết định trên cho ông Trần Kim S - đại diện ủy quyền của nguyên đơn (BL44). Ngày 31/10/2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A nộp đơn kháng cáo.
Căn cứ khoản 2 Điều 273 BLTTDS năm 2015, thì kháng cáo của bà
Nguyễn Thị A còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua việc kiểm sát việc giải
quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: đúng thẩm quyền thụ lý. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, vấn đề thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận X ban
hành Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 122/2018/QĐST-DS ngày 28/9/2018 căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà A kháng cáo cho rằng: Đối tượng bà khởi kiện là ông Vũ Kim D khác
với người bà khởi kiện trước đây là bà Phạm Thị G. Do đó bà yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ trên.
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 13/6/2018, bà A yêu cầu hủy Giấy sang
nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 03/6/2011 đối với phần diện tích 1.338m2 thuộc thửa đất 3185 tờ bản đồ số 1, phường A, Quận X, Tp.Hồ Chí Minh và hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà ở, đất ở được lập ngày 15/7/1999 đối với căn nhà số 422/32, tổ 25, Ấp 3, phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án dân sự phúc thẩm số 530/2018/DS-PT ngày 29/5/2018 của Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án:
“1. Đình chỉ đối với yêu cầu hủy giao dịch ngày 21/5/2001, giữa bà
Nguyễn Thị A và ông Vũ Kim D, vì đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu
lực pháp luật (Bản án số 1377/2009/HC-PT ngày 03/8/2009 của Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh).
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị A về việc yêu cầu hủy các giao dịch
dân sự ngày 15/7/1999, 03/6/2001, Đơn xin chuyển tên chủ sử dụng nhà ở, đất ở
không ghi ngày, tháng, năm và yêu cầu hủy các quyết định hành chỉnh của Ủy
ban nhân dân Quận X…”.
Xét thấy, nội dung yêu cầu của bà A đã được giải quyết tại Bản án dân sự
phúc thẩm số 530/2018/DS-PT ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh. Do đó, Tòa án nhân dân Quận X đã ban hành Quyết định đình chỉ
số 122/2018/QĐST-DS ngày 28/9/2018 căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị A.
Giữ nguyên Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số
122/2018/QĐST-DS ngày 28/9/2018 của Toà án nhân dân Quận X.
XÉT THẤY:
Về hình thức: Ngày 28/9/2018, Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ
Chí Minh ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 122/2018/QĐST-
DS. Ông Trần Kim S - đại diện ủy quyền của bà A được tống đạt hợp lệ Quyết
định đình chỉ nêu trên. Ngày 30/10/2018 và ngày 02/11/2018, bà Mai và ông
Trần Kim S đại diện ủy quyền của bà A có đơn kháng cáo là còn trong thời hạn
luật định và đã làm thủ tục kháng cáo đối với Quyết định trên đúng theo quy
định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Về nội dung:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A yêu cầu
hủy giấy sang nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 03/6/2011 đối với phần diện
tích 1.338m2 thuộc thửa đất 3185 tờ bản đồ số 1, phường A, Quận X, Thành phố
Hồ Chí Minh và hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà ở, đất ở được lập ngày
15/7/1999 đối với căn nhà số 422/32, Tổ 25, Ấp 3, phường A, Quận X, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Nhưng xét các yêu cầu của bà Nguyễn Thị A đã được giải quyết bằng bản
án đã có hiệu lực pháp luật theo các Bản án dân sự phúc thẩm số 530/2018/DS-
PT, ngày 29/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
Đình chỉ đối với yêu cầu hủy giao dịch ngày 21/5/2001, giữa bà Nguyễn Thị A
và ông Vũ Kim D và Bản án hành chính phúc thẩm số 1377/2009/HC-PT, ngày
03/8/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên xử: Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị A về việc yêu cầu hủy các giao dịch dân sự ngày 15/7/1999 và ngày 03/6/2001, Đơn xin chuyển tên chủ sử dụng nhà ở, đất ở không ghi ngày tháng, năm và yêu cầu hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân Quận X.
Do đó, có cơ sở xác định Tòa án nhân dân Quận X căn cứ vào điểm c
khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự để ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, với lý do sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là có căn cứ.
Bà Nguyễn Thị A kháng cáo nhưng không có tài liệu chứng cứ nào mới
chứng minh cho yêu cầu của mình. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị A như đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp; Giữ nguyên Quyết định đỉnh chỉ giải quyết vụ án số 122/2018/QĐST-DS, ngày 28/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí: Do giữ nguyên quyết định sơ thẩm nên bà Nguyễn Thị A phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên căn cứ theo căn cước công dân, bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1943, theo quy định tại Điều 2, Luật người cao tuổi và điểm đ, khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đồng thời căn cứ đơn xin miễn giảm tiền tạm ứng án phí của nguyên đơn thì bà Nguyễn Thị A được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 148 và điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Căn cứ Điều 2 của Luật người cao tuổi.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị A.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số
122/2018/QĐST-DS ngày 28/9/2018 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị A được miễn nộp tiền án phí phúc
thẩm.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND Cấp cao; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận X; - VKSND Quận X; - Chi cục THADS Quận X; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Bá Thịnh |