- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trịnh Văn Q- Trịnh Văn H"
- Tòa quyết gì? Hủy to n b Bản án dân sự phúc thẩm số 59/2016/DSPT ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên v hủy to n b Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2016/DSST ngày 15/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” g…
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19 /2018/DS-GĐT Ngày 15 tháng 3 năm 2018 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội gồm có:
- Chñ täa phiªn tßa: Ông Ngô Anh Dũng – Thẩm phán cao cấp;
- C¸c thành viên: ¤ng Ngô Tiến Hùng – Thẩm phán cao cấp;
Ông Nguyễn Văn Sơn – Thẩm phán cao cấp.
Thư ký phiên tòa: Bµ Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tßa ¸n nh©n d©n cấp cao t i H N i.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Quyên - KiÓm s¸t viªn cao cấp.
Ngày 15 tháng 3 năm 2018, t i trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao t i H N i, mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn Q, sinh năm 1958; bà Trần Thị L, sinh năm 1970. Cùng trú t i: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1964; bà Lê Thị T, sinh năm 1966. Cùng trú t i: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; đ i diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang T, Chi cục trưởng Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L trình bày:
Ngày 05/3/2008, vợ chồng ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Lê Thị T 90 m2 đất thổ cư thu c thửa đất số 5, Tờ bản đồ QH, đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện Đ cấp ng y 26/6/1999 đứng tên ông (nay l thửa 505, Tờ bản đồ địa chính số 23), t i xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thỏa thuận chuyển nhượng với giá 120.000.000đ, bên nhận chuyển nhượng có trách nhiệm l m các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất t i cơ quan Nh nước có thẩm quyền. Vợ chồng ông H, bà T đã thanh toán cho vợ chồng ông được 60.000.000đ v hẹn khi n o sang tên sẽ trả số tiền 60.000.000đ còn l i, thời h n trả tiền cuối cùng là ngày 15/4/2015. Tuy nhiên, ông H, bà T đã không trả số tiền còn l i v l m 01 nh t m t i diện tích đất trên. Đến năm 2012, ông H, bà T bị ông Phùng Văn H1, b Ngô Thị H2 khởi kiện về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất trong đó có diện tích đất vợ chồng ông đã chuyển nhượng cho ông H, bà T nêu trên. T i vụ án n y ông tham gia với tư cách l người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng ông xác định không liên quan gì đến vụ án của ông H1, bà H2 v vợ chồng ông H, bà T nên không có yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Đ v To án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 505, Tờ bản đồ số 23, diện tích 90 m2 giữa vợ chồng ông H, bà T v vợ chồng ông H1, bà H2 l vô hiệu v bu c ông H1, bà H2 trả cho ông H, bà T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất n y. Năm 2015, Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ kê biên thửa đất 505 để thi h nh nghĩa vụ của ông H, bà T. Nay vợ chồng ông, b cho rằng việc kê biên trên của Chi cục thi h nh án huyện Đ l không đúng quy định. Do vậy ông, bà khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông v vợ chồng ông H, bà T vào ngày 05/3/2008 là vô hiệu. Bu c ông H, bà T trả l i diện tích đất trên v giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông, ông sẽ có trách nhiệm trả l i cho ông H, bà T số tiền 60.000.000đ. Về t i sản l nh t m trên đất ông đề nghị ông H, bà T tháo dỡ để trả l i đất cho vợ chồng ông.
Bị đơn là ông Trịnh Văn H, bà Lê Thị T trình bày:
Ông, b nhất trí với lời trình b y của ông Q, bà L về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông không đồng ý yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông Q l vô hiệu v đề nghị To án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, t i phiên tòa sơ thẩm, vợ chồng ông đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vợ chồng ông không có yêu cầu phản tố, về t i sản trên đất l nh t m trường hợp phải trả đất cho ông Q, bà L vợ chồng ông cũng nhất trí tháo dỡ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ đã thụ lý giải quyết hồ sơ thi h nh án đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2013/DS-PT ng y 28/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, người yêu cầu thi h nh án l b Ngô Thị H2, người phải thi h nh án l ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T với số tiền 825.000.000đ v lãi suất chậm thi h nh án. Để thi h nh bản án trên, Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ đã ra Quyết định thi h nh án số 211 ng y 03/01/2014 theo đơn yêu cầu của ông H1, bà H2, theo đó đã t m giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: P491042 do Uỷ ban nhân dân huyện Đ cấp ng y 26/6/1999 mang tên Trịnh Văn Q và 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Cơ quan thi h nh án đã thông báo cho ông H, bà T thi h nh nghĩa vụ thi h nh án. Tuy nhiên, hết thời gian thông báo theo luật định nhưng ông H, bà T không thi h nh nghĩa vụ trả nợ nên Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ tiến h nh kê biên quyền sử dụng đất số thửa 505, Tờ bản đồ 23, diện tích 90 m2 có trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P491042 mang tên ông Trịnh Văn Q để thi h nh đối với nghĩa vụ trả nợ của ông H, bà T. Ngày 29/12/2015, Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 38/2015/TLST-DS ng y 29/12/2015 về việc ông Q, bà L khởi kiện ông H, bà T trong đó có n i dung đề nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ đã kê biên. Ng y 15/01/2016, Chi cục Thi h nh án xác minh t i Tòa án nhân dân huyện Đ v được Tòa án cung cấp việc ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ng y 05/3/2008 giữa ông Q, bà L với ông H, bà T l vô hiệu. Ng y 18/01/2016, Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ ra quyết định hoãn thi h nh án đối với ông Trịnh Văn H và bà Lê Thi Tám. Chi cục thi h nh án dân sự huyện Đ đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết yêu cầu của ông Q, bà L đúng thời gian, đảm bảo trách nhiệm v nghĩa vụ thi hành án của ông H, bà T t i Bản án số 31/2013/DS-PT ng y 28/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp cho ông Ho ng b H t. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu các đương sự có thỏa thuận để thanh toán tiền giữa ông Q, bà L với ông H, bà T thì Tòa án kịp thời thông báo cho Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ được biết để Chi cục Thi h nh án có kế ho ch thu hồi số tiền m ông H, bà T phải thực hiện nghĩa vụ đối với ông H1, bà H2. Chi cục thi h nh án dân sự huyện Đ không có yêu cầu đ c lập gì.
T i Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2016/DSST ngày 15/8/2016, Tòa án nhân dân huyện Đ đã quyết định:
Tuyên bố: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L với ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T lập ngày 05/3/2008 vô hiệu.
Bu c ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T phải có trách nhiệm trả cho ông Q, bà L 90m2 đất thổ cư thu c thửa đất số 5, Tờ bản đồ QH nay là thửa 505, Tờ bản đồ 23 và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P491042 do Uỷ ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 26/6/1999 mang tên ông Trịnh Văn Q đồng thời phải tháo dỡ tài sản trên đất là 01 nhà t m có diện tích 90m2 để trả l i mặt bằng cho ông Q,bà L.
Ông Trịnh Văn Q và bà Trần Thị L có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T số tiền l : 60.000.000đ.
Ngo i ra, Tòa án còn quyết định về án phí v quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ kháng cáo to n b bản án sơ thẩm.
T i Quyết định kháng nghị số 03/QĐKN/VKS-DS ngày 30/8/2016, Viện kiểm sát nhân nhân huyện Đ đã kháng nghị bản án sơ thẩm nêu trên.
T i Bản án dân sự phúc thẩm số 59/2016/DS-PT ngày 30/12/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L với ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T lập ngày 05/3/2008 vô hiệu.
Bu c ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T phải có trách nhiệm trả ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L 90m2 đất thổ cư thu c thửa đất số 5, Tờ bản đồ QH (nay l thửa 505, Tờ bản đồ 23) v 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P491042 do Uỷ ban nhân dân huyện Đ cấp ng y 26/6/1999 mang tên ông Trịnh Văn Q. Đồng thời phải tháo dỡ t i sản trên đất l 01 nh t m có diện tích 90m2 để trả l i mặt bằng cho ông Q, bà L.
Ông Trịnh Văn Q và Bà Trần Thị L có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng ông Trịnh Văn H và bà Lê Thị T, số tiền l : 60.000.000đ.
Ngo i ra, Tòa án còn quyết định về án phí v nghĩa vụ chậm thi h nh án.
Sau khi xét xử phúc thẩm, b Ngô Thị H t có đơn đề nghị xem xét bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ có Công văn số 177/CV-CCTHA ngày 29/03/2017 đề nghị Chánh án Toà án nhân dân cấp cao t i Hà N i xem xét l i bản án phúc thẩm trên theo trình tự giám đốc thẩm.
T i Quyết định số 60/2017/KN-DS ngày 30/10/2017, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao t i H N i kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 59/2016/DSPT ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên; đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao t i H N i xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2016/DS-ST ng y 15/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xét xử sơ thẩm l i theo quy định của pháp luật.
T i phiên tòa giám đốc thẩm, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i H N i đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao t i H N i chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao t i H N i.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ngày 05/3/2008, vợ chồng ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L ký hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Lê Thị T quyền sử dụng 90m2 đất t i thửa số 5, Tờ bản đồ QH (nay l thửa 505, Tờ bản đồ số 23) địa chỉ t i xóm Bãi Cải, xã Tiên H i, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 120.000.000 đồng (đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên ông Q năm 1999), hợp đồng có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Tiên H i; vợ chồng ông H, bà T đã trả được 60.000.000 đồng v giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên, hai bên thỏa thuận khi nào làm xong thủ tục thì trả số tiền còn l i. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, vợ chồng ông H, bà T đã xây dựng nh ở trên thửa đất nhận chuyển nhượng. Ng y 27/9/2008, vợ chồng ông H, bà T lập văn bản thỏa thuận chuyển nhượng 02 thửa đất cho vợ chồng b Ngô Thị H2, ông Phùng Văn H (trong đó có thửa đất số 505, Tờ bản đồ số 23 đứng tên ông Q nêu trên) với giá 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H, bà T với vợ chồng ông H1, bà H2 không thực hiện được do vợ chồng ông H, bà T không hợp tác. Do đó, ông H1, bà H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án bu c vợ chồng ông H, bà T thực hiện việc chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên. T i Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2013/DS-PT ngày 28/6/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định: Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện trong “Giấy thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập ng y 27/9/2008 v “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” (hợp đồng không ghi ng y, tháng về lô đất số 36, Tờ bản đồ quy ho ch, diện tích 115m2) giữa vợ chồng ông H, bà T với vợ chồng ông H1, bà H2 l vô hiệu. Bu c vợ chồng ông H, bà T có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng ông H1, bà H2 số tiền 825.000.000 đồng. Ông H1, bà H2 phải có trách nhiệm trả cho ông H, bà T 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 811005, cấp ng y 11/3/2008 mang tên ông H, bà T; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P491042, cấp ng y 26/6/1999 mang tên ông Q; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Q, bà L v vợ chồng ông H, bà T (hợp đồng theo mẫu quy định có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Tiên H i, huyện Đ l bản gốc). Sau khi Bản án dân sự phúc thẩm số 31/2013/DS-PT ngày 28/6/2013 có hiệu lực, vợ chồng ông H1, bà H2 có đơn yêu cầu thi h nh án nhưng do vợ chồng ông H, bà T không tự nguyện thi h nh và không còn tài sản n o khác (trừ thửa đất số 505, Tờ bản đồ số 23 nêu trên) nên Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã kê biên thửa đất số 505, Tờ bản đồ số 23 để đảm bảo việc thi h nh án.
Sau khi cơ quan thi h nh án kê biên thửa đất trên, ngày 08/12/2015 vợ chồng ông Q, bà L khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ng y 05/3/2008 giữa ông Q, bà L với ông H, bà T là vô hiệu. To án cấp sơ thẩm v Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q, bà L, xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/3/2008 vô hiệu, bu c ông H, bà T tháo dỡ nh trả l i đất cho ông Q, bà L, đồng thời bu c vợ chồng ông Q, bà L trả l i số tiền 60.000.000đồng cho vợ chồng ông H, bà T.
Như vậy, trước khi vợ chồng ông Q, bà L khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông H, bà T trả l i thửa đất số 505, Tờ bản đồ số 23 thì thửa đất n y đã được Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên kê biên để đảm bảo việc thi h nh nghĩa vụ trả tiền cho vợ chồng ông H1, bà H2. Theo quy định t i Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của B Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn m t số vấn đề về thủ tục thi h nh án dân sự v phối hợp liên ng nh trong thi h nh án dân sự “Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm m người phải thi h nh án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố t i sản của mình cho người khác, không thừa nhận t i sản l của mình m không sử dụng khoản tiền thu được để thi h nh án thì t i sản đó vẫn bị kê biên để thi h nh án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Do đó, t i thời điểm xảy ra tranh chấp giữa vợ chồng ông Q, bà L với vợ chồng ông H, bà T thì vợ chồng ông H1, bà H2 có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến thửa đất số 505, Tờ bản đồ số 23. Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ đã có văn bản đề nghị đưa vợ chồng ông H1, bà H2 v o tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án không đưa vợ chồng ông H1, bà H2 v o tham gia tố tụng l vi ph m nghiêm trọng pháp luật tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông H1, bà H2.
Đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Q, bà L với vợ chồng ông H, bà T: Thấy rằng, thửa đất tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Q năm 1999; việc chuyển nhượng giữa hai bên được lập th nh văn bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Tiên H i; ông H, bà T đã thanh toán ½ tiền chuyển nhượng v giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau khi ký hợp đồng, bên nhận chuyển nhượng đã sử dụng, xây nh ở ổn định. Do đó, theo quy định t i Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ng y 10/8/2004 của H i đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao v B luật dân sự năm 2005, Tòa án cấp sơ thẩm v Tòa án cấp phúc thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ng y 05/3/2008 vô hiệu l chưa đủ căn cứ vững chắc. Hơn nữa, do Tòa án không đưa vợ chồng ông H1, bà H2 v o tham gia tố tụng nên khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tòa án không giải quyết đồng thời hậu quả hợp đồng vô hiệu l ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông H1, bà H2.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 337; khoản 3 Điều 343; Điều 345 B luật tố tụng dân sự 2015.
Hủy to n b Bản án dân sự phúc thẩm số 59/2016/DSPT ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên v hủy to n b Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2016/DSST ngày 15/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Trịnh Văn Q, bà Trần Thị L với bị đơn là ông Trịnh Văn H, bà Lê Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan l Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đ.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử l i theo thủ tục sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDTC (để báo cáo); - VKSNDCC t i H N i (để biết); - TAND tỉnh Thái Nguyên; - TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (02 bản kèm hồ sơ vụ án); - Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: VT, P. HCTP-VP, P. GĐKTII; HSGĐT. | Tm. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - chñ täa phiªn tßa Ngô Anh Dũng |