vanban.org

Quyết định 28/2023/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 05/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ dân sự thụ lý số: 46/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng diện tích đất thuê theo hợp đồng”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đồng Thanh S, sinh năm 1977 và bà Trần Thị V, sinh năm 1979; Cùng nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng. Bị đơn: Bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1978 và anh Hoàng Mạnh H1, sinh năm 2001; Cùng nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất — án dân sự — "Quyết định dân sự"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ dân sự thụ lý số: 46/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng diện tích đất thuê theo hợp đồng”, giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 28/2023/QĐST-DSThủy Nguyên, ngày 05 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các điều 48; điểm a khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217; khoản 3 Điều 218; Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy: Ngày 30 tháng 12 năm 2019, Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng đã ký hợp đồng số 007A/HĐ-UBND với ông Đồng Thanh S và bà Trần Thị V, nội dung UBND xã T giao cho ông S, bà V được quyền sử dụng diện tích đất 1.300m2 đất công ích (có trích đo kèm theo) tại xứ đồng Đ, thôn 2, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng, thời hạn hợp đồng tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, mục đích của hợp đồng là sử dụng đất để nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, từ ngày hai bên ký hợp đồng đến ngày 31 tháng 12 năm 2020 đã hết thời hạn thuê 1.300m2 đất nhưng UBND xã T chưa thực hiện việc bàn giao diện tích đất thuê cho ông S, bà V theo nội dung hợp đồng hai bên đã ký kết do diện tích đất bà Ngô Thị Thu H và anh Hoàng Mạnh H1 đang quản lý sử dụng. Nên ông S, bà V không phải là người đang quản lý sử dụng diện tích đất hợp pháp. Hợp đồng số 007A/HĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2019 giữa UBND xã T với ông Đồng Thanh S, bà Trần Thị V đã hết hiệu lực. Vì vậy, ông S, bà V không có quyền sử dụng đối với diện tích đất thuê. Nên ông S, bà V không có quyền khởi kiện đòi quyền sử dụng diện tích đất thuê 1.300m2 đất công ích để nuôi trồng thủy sản tại xứ đồng Đ, thôn 2, xã T, huyện T1 thuộc trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Đình chỉ giải quyết vụ dân sự thụ lý số: 46/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng diện tích đất thuê theo hợp đồng”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đồng Thanh S, sinh năm 1977 và bà Trần Thị V, sinh năm 1979; Cùng nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn: Bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1978 và anh Hoàng Mạnh H1, sinh năm 2001; Cùng nơi cư trú: Thôn 1, xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T1, thành phố Hải Phòng.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Về tiền tạm ứng án phí: Trả lại cho ông Đồng Thanh S và bà Trần Thị V 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự ông S, bà V đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007626 ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Về quyền khởi kiện: Nguyên đơn không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ