vanban.org

Quyết định 28/2022/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06 tháng 5 năm 2022, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H thuận tình ly hôn. Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H có ba con chung là cháu Mã Thanh Th – sinh ngày: 28/12/1994, cháu Mã Thị Út X – sinh ngày: 18/10/1996, cháu Mã Thanh Th – sinh ngày: 19/12/2004; Cháu Th và cháu X đã đủ tuổi trưởng thành (18… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H về việc ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06 tháng 5 năm 2022, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 28/2022/QĐCNTTLHVĩnh Thạnh, ngày 20 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ các Điều 55, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H.

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 4 năm 2022 về việc yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị N.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06 tháng 5 năm 2022 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:

+ Người khởi kiện: Bà Trần Thị N – sinh năm: 1978, địa chỉ: Thôn Vĩnh Bình, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

+ Người bị kiện: Ông Mã Thanh H – sinh năm: 1978, địa chỉ: Thôn Vĩnh Bình, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (nếu có).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06 tháng 5 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 06 tháng 5 năm 2022, cụ thể như sau:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H có ba con chung là cháu Mã Thanh Th – sinh ngày: 28/12/1994, cháu Mã Thị Út X – sinh ngày: 18/10/1996, cháu Mã Thanh Th – sinh ngày: 19/12/2004; Cháu Th và cháu X đã đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) đã phát triển bình thường nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Riêng cháu Mã Thanh Th khi ly hôn bà N và ông H thống nhất, thỏa thuận giao cháu Th cho bà N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nữ không yêu cầu ông Huân cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Vì lợi ích của con, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, về khoản nợ chung: Bà Trần Thị N và ông Mã Thanh H đã tự giải quyết xong, thống nhất không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ