- Tranh chấp gì? "Nông Văn A"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với:
- Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 28/2020/QĐ-TA | Tràng Định, ngày 06 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Bình
2. Thư ký phiên họp: Ông Triệu Tuấn Bình
Ngày 06 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/2020/QĐ-TA ngày 27 tháng 10 năm 2020 và Thông báo hoãn phiên họp số 20/QĐ-TA ngày 03/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với:
Họ và tên: Nông Văn A; giới tính: Nam
Sinh ngày 03 tháng 01 năm 1990
CMND số: ..................ngày...................; nơi cấp: ................................
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.
Hộ khẩu thường trú: thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Chỗ ở: thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 01/8/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường tại quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 01/8/2019.
Con ông Nông Văn C và bà Nông Thị P
Người bị đề nghị Nông Văn A có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nông Văn Khánh, chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Trường Sinh, Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nông Văn A bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là ma túy Heroine, hình thức sử dụng là hít qua đường hô hấp đi vào cơ thể. Nông Văn A đã được chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, hình thức cai nghiện tại gia đình với thời hạn là 03 (ba) tháng từ ngày 01/8/2019 đến ngày 01/11/2019 nhưng Nông Văn A vẫn nghiện ma túy Heroine. Hiện nay Nông Văn A vẫn nghiện ma túy Heroine, được thể hiện tại biên bản xét nghiệm người sử dụng chất ma túy ngày 05/10/2020 tại trụ sở Công an xã H và phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện chất ma túy của Trạm trưởng trạm ý tế xã H.
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012; Nghị định số 221/2013 ngày 30/12/2013; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ. Phòng Lao động, thương binh, xã hội – Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa Nông Văn A vào cơ sở cai nhiện ma túy bắt buộc tỉnh Lạng Sơn.
Tại phiên họp hôm nay:
Đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động, thương binh, xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, trình bày ý kiến: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị đã có các tài liệu chứng minh liên quan đến hành vi vi phạm sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Văn A. Phòng Lao động, thương binh, xã hội - Dân tộc huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nông Văn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 (mười tám) đến 22 (hai mươi hai) tháng.
Người bị đề nghị Nông Văn A vắng mặt tại phiên họp lần thứ nhất, theo quy định tại Pháp lệnh về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/1/2014, Tòa án đã hoãn phiên họp lần thứ nhất và ấn định phiên họp vào ngày hôm nay nhưng Nông Văn A có mặt. Tại biên bản lấy lời khai ngày 5/10/2020 và tại phiên họp ngày hôm nay Nông Văn A cho biết mình bị nghiện chất ma túy từ năm 2013. Đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân xã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện tại nhà nhưng đến nay vẫn nghiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn A đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện theo đúng luật định, người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn A, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:[
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn A được thực hiện như sau:
Xét về tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, thì: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị theo quy định; có Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nông Văn A phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính; trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của Nông Văn A, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đã có biên bản lời khai, bản tường trình đầy đủ của người vi phạm Nông Văn A.
Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 03 tháng 01 năm 1990, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, người nghiện ma túy do Công an cấp huyện phát hiện, điều tra, thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì cơ quan Công an thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn A là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Xét về hành vi: Hành vi vi phạm của Nông Văn A là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, hành vi trên của Nông Văn A chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Nông Văn A đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Nông Văn A đã tự nguyện khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Xét về nhân thân: Nông Văn A không có tiền án, nhưng có một tiền sự. Xác định Nông Văn A có nhân thân xấu.
Bản thân Nông Văn A có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó của Nông Văn A cần phải xử lý nghiêm.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, thương binh, xã hội - Dân tộc huyện T, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa Nông Văn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 (mười tám) đến 22 (hai mươi hai) tháng, là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nông Văn A đã gây ra. Tuy vậy xét thấy Nông Văn A chấp hành theo quy định tại khoản 2 Điều 17 và khoản 7 Điều 18 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, nên Tòa án sẽ xem xét và quyết định.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106, Điều 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với:
Nông Văn A, sinh ngày 03 tháng 01 năm 1990; hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, thương binh, xã hội - Dân tộc huyện T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện T đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng LĐ, TB, XH - DT huyện T; - VKSND huyện T; - Người bị đề nghị; - Phòng Tư pháp huyện T; - Công an huyện T; - UBND xã H, huyện T; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Hoàng Văn Bình |